Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1. Cơ cấu kinh tế và phân loại cơ cấu kinh tế Hiện nay có rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Cụ thể như sau: Theo Chenery (1988), “Chuyển đổi cơ cấu kinh tế là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích luỹ của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm”. Theo đó, Chenery (1988) đã nhấn mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là yêu cầu tất yếu của sự phát triển mà các quốc gia đều bắt buộc phải trải qua. Còn theo Bùi Quang Bình (2010), “cơ cấu nhằm để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó, khi coi nền kinh tế quốc dân như một hệ thống với nhiều bộ phận cấu thành và các kiểu cơ cấu hợp thành chúng”. Theo thời gian khi nền kinh tế vận động tăng trưởng thì các bộ phận và các kiểu cơ cấu của nó cũng thay đổi.
Do đó cơ cấu kinh tế được hiểu là tổng thể những mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về số lượng và về chất lượng, tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa chúng với nhau và với toàn bộ hệ thống trong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định vào những khoảng thời gian nhất định (Bùi Tất Thắng, 2006)). Mối quan hệ về số lượng giữa các bộ phận cấu thành có thể biểu hiện qua tỷ trọng của mỗi ngành trong GDP xét theo đầu ra qua đó ảnh hưởng tới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tăng trưởng kinh tế. Mối quan hệ số lượng còn thể hiện ở tỷ trọng trong tổng lao động hay tổng vốn của nền kinh tế tại một thời điểm nào đó.
Mặc dù có những khái niệm khác nhau, nhưng bản chất của cơ cấu kinh tế chính là sự biểu hiện của các mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình sản xuất xã hội, đó là mối quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nhưng không đơn thuần chỉ là những quan hệ về mặt số lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố - biểu hiện về lượng hay sự tăng trưởng của hệ thống, mà là những mối quan hệ bên trong và bên ngoài của các yếu tố đó - biểu hiện về chất hay sự phát triển của hệ thống (Lê Đình Thắng, 1998). Tóm lại, cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành cùng với những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời gian và điều kiện kinh tế, xã hội nhất định (Nguyễn Thành Độ và Lê Du Phong, 1999). Hiện nay việc phân chia nền kinh tế của một quốc gia được phân chia theo nhiều hình thức và nhiều cấp độ khác nhau. Nhìn chung cơ cấu kinh tế được phân chia theo các góc độ chủ yếu sau: Cơ cấu ngành kinh tế: phản ánh sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa sản xuất, được hình thành dựa trên mối quan hệ giữa các đối tượng khác nhau của nền sản xuất, sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành kinh tế càng đa dạng.
Cho đến nay, trên thế giới về cơ bản có hai hệ thống phân ngành kinh tế, đó là hệ thống sản xất vật chất, được áp dụng đối với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và hệ thống tài khoản quốc gia, được áp dụng đối với nền kinh tế thị trường (Chu Văn Cấp, 2006). Có rất nhiều cách để phân chia ngành, thường sự phân chia ngành sẽ phụ thuộc vào cơ chế quản lý của một đất nước, đặc điểm của từng nước, trình độ phát triển, lĩnh vực cần thiết để ưu tiên phát triển, thông qua sử dụng nguồn lực một quốc gia sao cho hiệu quả nhất. Đối với nước ta, theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 23/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam, nền kinh tế nước ta được chia thành 21 ngành kinh tế cấp 1; 88 ngành kinh tế cấp 2; 242 ngành kinh tế cấp 3; 437 ngành kinh tế cấp 4 và 642 ngành kinh tế cấp 5. Theo định nghĩa đã được Bộ Nông nghiệp và PTNN ban hành thì "nông nghiệp thường được xem là một ngành kinh tế, nếu hiểu theo nghĩa hẹp gồm có trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, nếu hiểu theo nghĩa rộng còn bao hàm cả lâm nghiệp và thuỷ sản" (Bộ Nông nghiệp và PTNN, 2013b).
Theo hệ thống phân ngành kinh tế của nước ta hiện nay, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản là 1 trong 21 ngành kinh tế cấp 1. Cơ cấu thành phần kinh tế: Gắn liền với các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và xu hướng chung là lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, các hình thức sở hữu ngày càng đa dạng. Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là thành phần kinh tế. Tuy nhiên, ngày nay giữa các hình thức sở hữu có sự đan xen lẫn nhau tùy thuộc vào sự phát triển của các nền kinh tế, dẫn đến sự phân chia nền kinh tế theo các thành phần kinh tế ngày càng phức tạp.
Từ mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong quá trình vận động người ta có thể thấy được xu hướng phát triển và vai trò của từng thành phần kinh tế để từ đó có thể đưa ra các giải pháp tác động phù hợp với yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế (Chu Văn Cấp, 2006). Cơ cấu vùng kinh tế: Phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian địa lí. Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thi chính sách phù hợp với đặc điểm của từng vùng nhằm đạt hiệu quả cao trên từng vùng và toàn lãnh thổ (Chu Văn Cấp, 2006). Hiện nay để tiện cho việc quản lý và phát triển kinh tế, thường một quốc gia sẽ phân chia lãnh thổ thành các vùng sản xuất chuyên canh theo sự khác biệt về mặt kinh tế, đặc trưng về các yếu tố SXNN.
Việc phân chia như LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 vậy có tác dụng rất to lớn trong việc chuyển dịch KTNN và phát triển SXNN, bởi vì có thể xác định được cây trồng phù hợp với thổ nhưỡng từng khu vực, chăn nuôi phù hợp với trình độ, khí hậu và nhu cầu của từng địa phương, tránh tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thông qua đó tạo ra những vùng SXNN lớn, chuyên canh, từ đó giảm giá thành SPNN và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản, là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế nông nghiệp bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho con người, làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và làm nguồn hàng cho xuất khẩu (Đinh Phi Hồ, 2003). Sự chuyển đổi cơ cấu KTNN gắn liền với các hoạt động SXNN.
Mặt khác, cơ cấu KTNN sẽ phụ thuộc vào sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế của một quốc gia. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tổng thể bao gồm các mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể (Bùi Tất Thắng, 2006). Cơ cấu KTNN phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chúng ta có thể phân chia cơ cấu KTNN thành các nhóm sau: - Nhóm nhân tố tự nhiên: Quá trình SXNN phụ thuộc rất lớn vào yếu tố tự nhiên. Nếu tự nhiên thuận lợi thì SXNN sẽ thuận lợi và ngược lại.
Các nhân tố tự nhiên bao gồm như đất đai, khí hậu, thời tiết…. - Nhóm nhân tố về kinh tế và tổ chức: bao gồm các nhân tố như: Con người, vốn, hệ thống chính sách pháp luật… những nhân tố này tác động mạnh mẽ đến quá trình CDCC kinh tế nói chung và KTNN nói riêng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Nhóm nhân tố về kĩ thuật: Hiện nay nhân tố kĩ thuật tác động mạnh mẽ tới cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu KTNN nói riêng, nó tạo ra những cơ hội và thách thức đối với nền SXNN, thông qua việc thay đổi phương thức canh tác, chế biến và bảo quản SPNN, không ngừng tăng năng suất và chất lượng SPNN. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu (CDCC) kinh tế là hoạt động biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng áp dụng công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất làm thay đổi nền sản xuất lạc hậu lỗi thời sang nền sản xuất trang bị kỹ thuật tiên tiến, thông qua đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm và thúc đẩy tăng trưởng cho nền kinh tế quốc gia.
Sự CDCC kinh tế thường đòi hỏi một thời gian dài. Ban đầu sự chuyển dịch sẽ tác động đến sự thay đổi về lượng, sau đó kéo theo một sự thay đổi về chất. Cơ cấu thành phần cũ sẽ bị xóa bỏ và thay vào đó là cơ cấu thành phần kinh tế mới tối ưu hơn. Quá trình CDCC-KTNN sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố con người đóng vai trò chủ chốt.
Chính vì vậy muốn nâng cao hiệu quả CDCC đòi hỏi con người phải có tri thức, có ý thức và định hướng đúng quá trình CDCC-KTNN trên cơ sở phát huy những lợi thế và hạn chế những ảnh hưởng khách quan.