Luận văn thạc sĩ hay bước đầu nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ tại hệ sinh thái tùng áng vườn quốc gia bái tử long tỉnh quảng ninh

Luận văn thạc sĩ phân tích hay bước đầu nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ tại hệ sinh thái tùng áng vườn quốc gia bái tử long, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Viện Sinh Thái Và Tài Nguyên Sinh Vật

Chuyên ngành

Động Vật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2018

90
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU GIÁP XÁC NHỎ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.1. Các nghiên cứu Giáp xác nhỏ ở nước ngoài

1.1.1. Giáp xác Amphipoda

1.1.2. Giáp xác Copepoda

1.1.3. Giáp xác có vỏ Ostracoda

1.2. Các công trình nghiên cứu về Giáp xác nhỏ ở Việt Nam

1.2.1. Giáp xác Amphipoda

2. CHƯƠNG 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian nghiên cứu

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Nghiên cứu, khảo sát ngoài thực địa

2.4.2. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.4.3. Kỹ thuật xử lý và phân tích giáp xác nhỏ

2.4.4. Tính toán các chỉ số sinh học

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc trưng về thành phần loài giáp xác nhỏ ở khu vực nghiên cứu

3.1.1. Thành phần loài giáp xác nhỏ ở khu vực nghiên cứu

3.1.2. Cấu trúc về thành phần loài của từng nhóm Giáp xác nhỏ

3.1.3. Thành phần loài giáp xác nhỏ bổ sung cho khu vực nghiên cứu

3.2. Đặc trưng phân bố của Giáp xác nhỏ ở Khu vực nghiên cứu

3.2.1. Phân bố về mật độ Giáp xác nhỏ ở khu vực nghiên cứu

3.2.2. Mức độ đa dạng sinh học quần xã Giáp xác nhỏ ở KVNC

3.2.3. Những hoạt động của con người tác động tới biện động số lượng và thành phần loài giáp xác nhỏ ở khu vực nghiên cứu

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ tại VQG Bái Tử Long

Nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ tại Vườn quốc gia Bái Tử Long, Quảng Ninh, là một lĩnh vực còn mới mẻ nhưng đầy tiềm năng. Vườn quốc gia này nổi bật với hệ sinh thái động vật giáp xác phong phú, đặc biệt là trong các hệ sinh thái tùng, áng. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng khu vực này có sự đa dạng sinh học cao, với nhiều loài giáp xác nhở chưa được khám phá. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hệ sinh thái biển mà còn góp phần vào công tác bảo tồn sinh học.

1.1. Đặc điểm sinh thái của Vườn quốc gia Bái Tử Long

Vườn quốc gia Bái Tử Long có hệ sinh thái biển đa dạng với nhiều kiểu hình thái như áng, tùng. Đặc điểm địa lý và khí hậu nơi đây tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài giáp xác nhỏ. Nghiên cứu cho thấy, khu vực này có tổng cộng 62 áng và 57 tùng, với diện tích lớn, tạo nên môi trường sống phong phú cho các loài động vật.

1.2. Tầm quan trọng của quần xã giáp xác nhỏ

Quần xã giáp xác nhỏ đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn và cân bằng sinh thái. Chúng không chỉ là nguồn thức ăn cho nhiều loài khác mà còn giúp duy trì chất lượng nước và môi trường sống. Việc nghiên cứu quần xã này sẽ cung cấp thông tin quý giá cho công tác bảo tồn sinh học và phát triển bền vững.

II. Những thách thức trong nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ tại VQG Bái Tử Long vẫn gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là thiếu dữ liệu và tài liệu nghiên cứu trước đó. Điều này làm cho việc xác định và phân loại các loài giáp xác trở nên khó khăn. Hơn nữa, sự tác động của con người đến môi trường tự nhiên cũng là một yếu tố cần được xem xét.

2.1. Thiếu dữ liệu và tài liệu nghiên cứu

Nhiều loài giáp xác nhỏ chưa được ghi nhận trong các tài liệu khoa học, dẫn đến việc khó khăn trong việc xác định và phân loại. Việc thiếu thông tin này có thể ảnh hưởng đến các chiến lược bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật.

2.2. Tác động của con người đến môi trường

Hoạt động của con người như khai thác tài nguyên, ô nhiễm và biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển. Những thay đổi này có thể làm giảm số lượng và đa dạng của các loài giáp xác nhỏ, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái.

III. Phương pháp nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ hiệu quả

Để nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ tại VQG Bái Tử Long, cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Việc thu thập mẫu vật và phân tích chúng trong phòng thí nghiệm là rất quan trọng. Các phương pháp như khảo sát ngoài thực địa và phân tích chỉ số sinh học sẽ giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về quần xã này.

3.1. Khảo sát ngoài thực địa

Khảo sát ngoài thực địa là bước đầu tiên trong nghiên cứu. Việc thu mẫu tại các áng và tùng sẽ giúp xác định thành phần loài và phân bố của giáp xác nhỏ. Các mẫu vật sẽ được thu thập từ nhiều vị trí khác nhau để đảm bảo tính đại diện.

3.2. Phân tích trong phòng thí nghiệm

Sau khi thu thập mẫu, các mẫu vật sẽ được phân tích trong phòng thí nghiệm. Việc xác định loài và tính toán các chỉ số sinh học như chỉ số đa dạng và phong phú sẽ giúp hiểu rõ hơn về quần xã giáp xác nhỏ tại khu vực này.

IV. Kết quả nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ tại VQG Bái Tử Long

Kết quả nghiên cứu cho thấy có tổng cộng 65 loài giáp xác nhỏ được ghi nhận tại khu vực nghiên cứu. Trong đó, 36 loài là lần đầu tiên được ghi nhận cho khu vực này. Các loài này chủ yếu phân bố ở tầng đáy và có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Những phát hiện này mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học.

4.1. Thành phần loài giáp xác nhỏ

Thành phần loài giáp xác nhỏ tại VQG Bái Tử Long rất phong phú. Các loài được ghi nhận bao gồm nhiều nhóm khác nhau như Copepoda, Cladocera và Ostracoda. Sự đa dạng này cho thấy khu vực này có môi trường sống lý tưởng cho các loài giáp xác.

4.2. Đặc trưng phân bố của các loài

Đặc trưng phân bố của các loài giáp xác nhỏ cho thấy sự phân bố không đồng đều giữa các tầng nước. Các loài thường tập trung ở tầng đáy, nơi có điều kiện sống ổn định hơn. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn các khu vực này.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ

Nghiên cứu quần xã giáp xác nhỏ tại VQG Bái Tử Long đã mở ra nhiều cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo. Những phát hiện về thành phần loài và phân bố sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn về hệ sinh thái biển. Việc bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật tại khu vực này là rất cần thiết để duy trì sự đa dạng sinh học.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn

Bảo tồn quần xã giáp xác nhỏ không chỉ giúp duy trì sự đa dạng sinh học mà còn bảo vệ các hệ sinh thái khác. Việc này cần sự hợp tác giữa các nhà khoa học, chính quyền và cộng đồng địa phương.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc theo dõi sự biến động của quần xã giáp xác nhỏ theo thời gian. Điều này sẽ giúp hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu và hoạt động của con người đến hệ sinh thái.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. Tình hình nghiên cứu Giáp xác nhỏ trên thế giới và Việt Nam 1. Các nghiên cứu Giáp xác nhỏ ở nước ngoài 1. Giáp xác Amphipoda Hoạt động nghiên cứu thống kê, mô tả thành phần loài Amphipoda trên thế giới đã được tiến hành từ giữa thế kỷ XVIII, với công trình đầu tiên của Linnaeus, kết quả được công bố trong tác phẩm kinh điển Systema Naturae (1758).

Tiếp sau là sự xác lập giống Gammarus của Fabricius (1775) và họ Gammaridae của Leach (1816). Các công trình nghiên cứu về thành phần loài Amphipoda trong nhiều thế kỷ qua đã được thực hiện rộng khắp trên các vùng biển trên thế giới, ở các mức độ khác nhau, về phạm vi cũng như về đối tượng nghiên cứu. Trong số những nghiên cứu sớm vào cuối thế kỷ XIX, có thể kể công trình của Sars. Amphipoda vùng biển Châu Âu còn được tiếp tục khảo sát ở Địa Trung Hải, với các công trình của Myers A.

(1982, 1989, 1993) về các họ Corophiidae, Gammaridae, Haustoriidae, Lysianassidae, Melphidippidae, Talitridae, Amphithoidae, Leucothoidae… Một trong những vùng biển được nghiên cứu nhiều về Amphipoda là vùng biển Bắc Mỹ, phía đông bắc Thái Bình Dương và bắc Đại Tây Dương, với hàng loạt các công trình của Barnard J. từ 1950 tới 1980, Dickinson J.(1982) về các họ lớn của Phân bộ Gammaridea, như: Ampeliscidae, Gammaridae, Corophiidae, Amphithoidae, Phoxocephalidae, Podoceridae. Vùng biển phía tây bắc Thái Bình Dương cũng đã được nghiên cứu nhiều về Amphipoda. Công trình của Gurianova E.

(1951) là một chuyên khảo lớn về Amphipoda Gammaridea các biển Liên Xô (cũ), bao gồm biển Bắc có 40 họ, 480 loài, biển Viễn Đông có 30 họ, 278 loài, biển Nam có 15 họ, 46 loài. Amphipoda biển 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhật đã được nghiên cứu với các công trình của Bulycheva A. (1959, 1961, 1965, 1966) về các họ: Lysianassidae, Melitidae, Oedicerotidae, Phoxocephalidae, Urothoidae, Synopiidae, Ampeliscidae, Haustoriidae, Hyalidae. và gần đây có công trình của Aryiama H.

(2007) về họ Kamakidae ở biển Nhật Bản. Biển Triều Tiên còn ít được nghiên cứu, chỉ có công trình của Kim H. (1988, 1991) về Amphipoda - Gammaridea vùng biển này. Vùng biển Trung Quốc đã được nghiên cứu khá hoàn chỉnh, về thành phần loài Amphipoda Gammaridea, từ biển Hoàng Hải phía bắc tới biển Nam Hải phía Nam.

Với các công trình của: Yu S. (1994), và nhất là các công trình của Ren X. (1991-2006) được công bố tổng hợp trong Tập 41, Động vật chí Trung Quốc, bao gồm 359 loài thuộc 37 họ Amphipoda Gammaridea. Vùng biển phía nam Thái Bình Dương, Australia, New Zealand, cũng đã được nghiên cứu nhiều về Amphipoda, đặc biệt trong thời gian gần đây về Amphipoda rạn san hô Great Barrier, với các công trình của Barnard J.

Từ những nghiên cứu này, đã xác lập nhiều giống mới, như trong họ Melitidae đã xác lập 6 giống mới từ giống Maera. Nghiên cứu Amphipoda vùng biển Châu Phi đã có từ những năm đầu thế kỷ XX, với những công trình của Barnard K. Vùng biển Ấn Độ đã được nghiên cứu với các công trình của Chilton C. (1966, 1967, 1970), chú trọng các họ Ampeliscidae, Corophiidae, Amphithoidae, Melitidae, vùng bờ phía đông Ấn Độ.

Riêng vùng phía nam biển Đông, khu vực biển phía đông nam Châu Á, cho tới nay, các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều. Trong vùng biển Việt Nam, chỉ mới 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có một số công trình của Đặng Ngọc Thanh (1965, 1967, 1968), Đặng Ngọc Thanh & Lê Hùng Anh (từ những năm 2000), Imbach M. Vùng biển Philippin, Malaysia có các công trình của Olerod R. (1993) về một số họ Ampeliscidae, Melitidae, Leucothoidae, Talitridae, Platyischnopidae.

Vùng biển Thái Lan, chỉ mới biết có công trình của Somchai Busarawich (1985), thống kê 10 loài Amphipoda thuộc các họ Corophiidae, Melitidae, Talitridae, Hyalidae, Calliopidae tìm thấy ở rừng mangrove Vịnh Thái Lan và một công trình khác của Wongkamhang (2009), công bố 7 loài Amphipoda Gammaridea tìm thấy trong thảm cỏ biển ở đảo Libong, tỉnh Trang. Hoạt động điều tra nghiên cứu Amphipoda còn được thực hiện trong các chuyến khảo sát lớn trên các đại dương trong thế kỷ trước. Chuyến khảo sát Challenger (1872- 1876) được tổ chức khảo sát xuyên đại dương từ tây sang đông, thu mẫu vật tới độ sâu 8. Các kết quả nghiên cứu về Amphipoda đã được công bố trong báo cáo của Stebbing (1988), phát hiện nhiều taxon mới.

Chuyến khảo sát Siboga Expedition (1899-1900), thực hiện ở vùng biển đông nam Thái Bình Dương, ngang Indonesia và các đảo châu Đại Dương, kết quả đã được báo cáo trong công trình của Pirlot (1932- 1938), cho biết thành phần loài Amphipoda của vùng biển nhiệt đới quanh xích đạo. Chương trình khảo sát NAGA (1959-1961) ở vùng biển Nam Việt Nam và Vịnh Thái Lan, các kết quả thu được đã được trình bày trong báo cáo Naga Report của Imbach (1967), thống kê được khoảng 40 loài Amphipoda Gammaridea cho vùng biển này, hầu hết là những loài mới cho khoa học. Giáp xác Copepoda Giáp xác chân chèo sống tự do đã được nghiên cứu từ thế kỷ XVIII trong công trình về hệ thống phân loại các nhóm động vật không xương sống của Linnaeus (1746). Sau đó là một loạt các nghiên cứu về phân loại học dựa trên các đặc điểm hình thái của Müller (1776), Jurine (1820), Milne-Edwards (1840), Brady (1883), Giesbrecht (1892).

Hệ thống phân loại được Sars (1903 -1913) đề xuất về cơ bản vẫn được sử dụng trong thời gian dài sau đó (Sewell, 1929; Rylov, 1948; Borutzky, 1952). Việc bổ sung nhiều taxon mới trong sự phát triển về phân loại học của nhóm này trong nửa 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cuối thế kỷ XX. Hiện nay hầu hết các tác giả đều chấp nhận và sử dụng rộng rãi hệ thống phân loại chia Copepoda làm 9 bộ của Boxshall & Halsey (2004). Trong số này các loài sống tự do ở nước ngọt hầu hết nằm trong 3 bộ: Calanoida, Cyclopoida và Harpacticoida.

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 24.400 giống và 210 họ đã được mô tả. Trong số đó, có khoảng 2.800 loài sống ở các thuỷ vực nước ngọt nội địa (Boxshall và Halsey, 2004; Boxshall và Defaye, 2010). Trong khu vực Đông Nam Á, hầu hết thành phần loài giáp xác Copepoda nước ngọt đã được tiến hành nghiên cứu. Ở các nước Malaysia và Indonesia được nghiên cứu sớm hơn với các công trình của Douwe (1901, 1907), Daday (1906), Chappuis (1928, 1931, 1933) ở Java và Sumatra; Fernando (1978), Fernando và Ponyi (1981) về khu hệ Copepoda ở Malaysia.

Các công trình nghiên cứu về thành phần loài ở Campuchia được công bố từ các nghiên cứu của Brehm (1951, 1954), Lindberg (1952). Trong thời gian gần đây có lẽ thành phần loài Copepoda nước ngọt của Thái Lan được điều tra kỹ lưỡng nhất từ các nghiên cứu của Boonsom (1984), Dumont và Reddy (1994), Dumont et al. (1996); Reddy et al. (1998, 2000); Sanoamuang (1999, 2001a, 2001b); Sanoamuang và Athibai (2002), Chullasorn et al.

Trong số đó có khoảng 10 loài Copepoda được mô tả ở Thái Lan [36,37]. Các công bố của Shen và Tai (1962, 1963, 1964) về giáp xác Copepoda ở các hồ và sông lớn của Trung Quốc, trong đó có nhiều loài và giống mới. Tổng hợp các kết quả nghiên cứu, trong cuốn khu hệ Giáp xác nước ngọt Trung Quốc, Shen và cs. (1979) đã mô tả 206 loài giáp xác Copepoda trong các thuỷ vực nội địa Trung Quốc.

Giáp xác có vỏ Ostracoda Giáp xác có vỏ Ostracoda khá phổ biến trong nhóm giáp xác nhỏ (Microcustacea), chúng thường sống ở nền đáy và cũng bắt gặp cả trong tầng nước cả ở môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Những nghiên cứu về phân loại học giáp xác Ostracoda đầu tiên là các công trình của Muller (1777, 1778) khi ông mô tả các loài trong giống Cypris và xếp chung với một số nhóm giáp xác nhỏ khác. Thuật ngữ Ostracoda được Latreille đề xuất năm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1802 và được xem như một bộ ("Ostrachode") trong hệ thống mà ông đề xuất bao gồm cả một số giống trong nhóm Cladocera và Copepoda. Sau đấy các nhóm này được tách ra và thành lập các bộ riêng xếp trong "legion" Brachiopoda (Milne- Edwards, 1840; Claus, 1868).

Sars (1866) chia bộ Ostracoda thành 4 nhóm: Podocopa, Myodocopa, Cladocopa và Platycopa, Muller (1900) xem 4 nhóm này là 4 phân bộ trong bộ Ostracoda. Hệ thống này gần như được duy trì trong suốt thời gian dài sau đấy, mặc dù có sự thay đổi của nhiều taxon bậc thấp hơn (Muller, 1912; Sars, 1928; Hoff, 1942. Moore (1961) nâng bộ Ostracoda thành một phân lớp trong lớp Maxillopoda và chia làm 5 bộ Archaeocopida, Leperditicopida, Palaeocopida, Podocopida, Myodocopida. Hiện đã biết khoảng 2000 loài giáp xác Ostracoda nước ngọt nội địa trên toàn thế giới, hầu hết có đời sống tự do, chỉ có khoảng 12 loài sống bán ký sinh đã ghi nhận được, tất cả đều thuộc bộ Podocopida (Martens et al.

Trong số đó vùng Đông Phương (Oriental) có 199 loài trong 6 họ và họ Cyprididae có số loài nhiều nhất (154 loài). Các dẫn liệu có được đến nay cho thấy tình hình nghiên cứu thành phần loài Ostracoda nước ngọt ở khu vực Đông Nam Á còn ít chủ yếu tập trung vào các đảo của Indonesia, Malaysia. Các mẫu vật từ các nghiên cứu của Moniez (1892), Sars (1903), Tressler (1937) đã được kiểm tra bởi Victor và Fernando (1982). Các nghiên cứu của Victor và Fernando (1979, 1980, 1981, 1982).

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu truớc đó Victor và Fernando (1982) thống kê một danh lục gồm 87 loài thuộc 26 giống ghi nhận được ở khu vực Đông Nam Á (gồm Malaysia, Indonesia và Philippin). Gần đây Savatenalinton và Martens (2010) đã có nghiên cứu khá đầy đủ về thành phần loài của phân họ Cypricercinae và mô tả 6 loài mới cho khu vực này. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các công trình nghiên cứu về Giáp xác nhỏ ở Việt Nam 1.

Giáp xác Amphipoda So với các nhóm động vật biển khác, Amphipoda biển Việt Nam được nghiên cứu chậm hơn. Trong khi các nhóm động vật biển khác được nghiên cứu từ những năm đầu thế kỷ XX, như cá biển (Chabanaud, 1926; Chevey, 1932), San hô (Krempf, 1920; Dawydoff, 1929), Giun nhiều tơ (Fauvel, 1934), Trai ốc biển (Crosse et Fischer, 1888), Tôm cua biển (Andre, 1931; Gravier, 1930), thì những dẫn liệu đầu tiên về Amphipoda chỉ có từ 1952, trong công trình khảo sát chung về sinh vật đáy biển Đông Dương của Dawydoff (1952). Tuy nhiên, trong công trình này, tác giả cho biết là: những mẫu vật về Amphipoda do tác giả thu được ở biển Đông Dương, được giao cho Pirlot nghiên cứu, song rất tiếc là các kết quả này đã không được công bố. Vì vậy, chỉ còn một lô mẫu vật nhỏ tác giả thu được trong vùng biển Cam Pu Chia và Tây Nam bộ Việt Nam, được giao cho các chuyên gia ở Bảo tàng Động vật Viện Hàn lâm Khoa học Nga ở St.

Peterburg nghiên cứu. Các loài đã xác định được là: Orchestia sp. platensis), Hyale sp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ