Vấn đề Giáo dục Thẩm mỹ cho Học sinh Trung học Phổ thông ở Tỉnh Quảng Nam Hiện nay

Luận văn thạc sĩ về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh THPT tại Quảng Nam. Nghiên cứu thực trạng, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ hiện nay.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2017

124
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Học Sinh THPT Quảng Nam Tổng Quan

Giáo dục thẩm mỹ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh. Nó không chỉ định hướng tư tưởng, quan điểm mà còn thúc đẩy khát vọng, ước mơ, và hành động hướng đến các giá trị chân - thiện - mỹ. Giáo dục thẩm mỹ là một phần cấu thành ý thức thẩm mỹ, giúp con người thưởng thức, nhận thức và đánh giá sáng tạo nghệ thuật. Việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới cần đặt trọng tâm vào hoạt động sống, hoạt động thưởng thức và đánh giá thẩm mỹ đúng đắn. Thẩm mỹ không chỉ là biểu hiện của cá nhân mà còn là kết quả của quá trình giáo dục thẩm mỹ trong và ngoài nhà trường.

1.1. Tầm Quan Trọng của Giáo Dục Thẩm Mỹ tại Trường THPT

Giáo dục thẩm mỹ giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, thẩm mỹ, năng lực và phẩm chất. Nó thúc đẩy năng lực cá nhân, năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng ý thức trách nhiệm công dân. Giáo dục thẩm mỹ giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc, tinh tế hơn về cuộc sống xung quanh, biết trân trọng cái đẹp trong tự nhiên, xã hội và nghệ thuật.

1.2. Bối Cảnh Văn Hóa Quảng Nam và Giáo Dục Thẩm Mỹ

Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa đa dạng. Đô thị cổ Hội An và khu đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Sự đa dạng trong hoạt động văn hóa của đồng bào các dân tộc tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục thẩm mỹ. Sự giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và các nước cũng ảnh hưởng đến thẩm mỹ trong văn hóa địa phương.

II. Thực Trạng Thách Thức Giáo Dục Thẩm Mỹ Tại Quảng Nam

Mặc dù giáo dục thẩm mỹ có vai trò quan trọng, thực tế công tác này trong các trường THPT hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ yêu cầu giáo dục thẩm mỹ, cần có sự tham gia đồng bộ của mọi lực lượng, đặc biệt là chức năng quản lý của nhà trường và gia đình. Một trong những vấn đề đặt ra là làm sao để dung hòa giữa việc bảo tồn văn hóa bản địa và tiếp thu những giá trị thẩm mỹ mới của thế giới. Cần có những giải pháp sáng tạo, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương để nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ.

2.1. Hạn Chế Về Cơ Sở Vật Chất và Đội Ngũ Giáo Viên

Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho giáo dục thẩm mỹ tại nhiều trường THPT còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu. Đội ngũ giáo viên giảng dạy các môn nghệ thuật còn thiếu về số lượng và chưa được bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và khả năng truyền cảm hứng cho học sinh. Cần có những đầu tư thích đáng để cải thiện tình hình này.

2.2. Nội Dung và Phương Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ Chưa Hấp Dẫn

Nội dung chương trình giáo dục thẩm mỹ còn nặng về lý thuyết, ít thực hành, chưa phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh THPT. Phương pháp giảng dạy còn đơn điệu, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Cần có những đổi mới về nội dung và phương pháp để tạo hứng thú cho học sinh trong việc học tập các môn nghệ thuật.

2.3. Nhận Thức Về Vai Trò của Giáo Dục Thẩm Mỹ còn Hạn Chế

Trong xã hội, nhiều người còn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của giáo dục thẩm mỹ trong sự phát triển toàn diện của con người. Gia đình và nhà trường chưa thực sự quan tâm đến việc tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận với các hoạt động nghệ thuật, văn hóa. Cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của giáo dục thẩm mỹ.

III. Cách Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thẩm Mỹ Tại Quảng Nam

Để nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh THPT tại Quảng Nam, cần có những giải pháp đồng bộ, toàn diện, tập trung vào các yếu tố: cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, nội dung và phương pháp giảng dạy, sự tham gia của gia đình và cộng đồng. Cần khai thác tiềm năng văn hóa địa phương, kết hợp với việc tiếp thu những giá trị thẩm mỹ tiến bộ của thế giới. Cần tạo ra một môi trường giáo dục thân thiện, cởi mở, khuyến khích sự sáng tạo của học sinh.

3.1. Đầu Tư Cơ Sở Vật Chất Trang Thiết Bị Dạy và Học

Cần đầu tư xây dựng, nâng cấp các phòng học, phòng chức năng dành riêng cho các môn nghệ thuật. Trang bị đầy đủ các thiết bị, dụng cụ dạy học hiện đại, phù hợp với từng môn học. Xây dựng thư viện, phòng trưng bày để học sinh có thể tiếp cận với các tác phẩm nghệ thuật, tài liệu tham khảo. Tạo không gian xanh, sạch, đẹp trong khuôn viên trường học.

3.2. Nâng Cao Năng Lực Đội Ngũ Giáo Viên Nghệ Thuật

Tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thường xuyên cho giáo viên giảng dạy các môn nghệ thuật. Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các hội thảo, triển lãm, trại sáng tác để nâng cao trình độ chuyên môn và cập nhật kiến thức mới. Khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.

3.3. Đổi Mới Nội Dung và Phương Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ

Xây dựng chương trình giáo dục thẩm mỹ tích hợp, lồng ghép các nội dung về văn hóa địa phương, di sản văn hóa dân tộc. Thiết kế các hoạt động thực hành, trải nghiệm sáng tạo để học sinh được trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo nghệ thuật. Sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh.

IV. Giải Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ Phát Triển Năng Lực Sáng Tạo

Một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ là phát triển năng lực sáng tạo của học sinh. Cần tạo điều kiện cho học sinh được tự do thể hiện sở thích nghệ thuật, khám phá những tiềm năng sáng tạo của bản thân. Khuyến khích học sinh tham gia các câu lạc bộ, đội, nhóm về nghệ thuật, tổ chức các cuộc thi, triển lãm để học sinh có cơ hội giao lưu, học hỏi và thể hiện tài năng.

4.1. Tổ Chức Các Hoạt Động Ngoại Khóa Về Nghệ Thuật

Tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật, tham quan bảo tàng, di tích lịch sử, làng nghề truyền thống. Mời các nghệ sĩ, chuyên gia về nghệ thuật đến giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm với học sinh. Tạo điều kiện cho học sinh được tham gia các dự án nghệ thuật cộng đồng.

4.2. Tăng Cường Sự Hợp Tác Giữa Nhà Trường và Gia Đình

Phối hợp với gia đình trong việc giáo dục thẩm mỹ cho học sinh. Tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo về giáo dục thẩm mỹ cho phụ huynh. Khuyến khích gia đình tạo điều kiện cho con em tham gia các hoạt động nghệ thuật tại nhà và cộng đồng.

4.3. Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ

Sử dụng các phần mềm, ứng dụng hỗ trợ giảng dạy các môn nghệ thuật. Tạo ra các bài giảng điện tử, video clip sinh động, hấp dẫn. Sử dụng internet để học sinh có thể tìm kiếm thông tin, tài liệu tham khảo về nghệ thuật.

V. Luận Văn Thạc Sĩ Kết Quả Nghiên Cứu và Ứng Dụng Thực Tiễn

Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn toàn diện về thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh THPT tại Quảng Nam. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm cơ sở để xây dựng các chính sách, chương trình và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ trên địa bàn tỉnh. Các giải pháp được đề xuất trong luận văn có tính khả thi cao, có thể áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả. Nghiên cứu này cũng góp phần vào việc phát triển lý luận về giáo dục thẩm mỹ trong bối cảnh hiện nay.

5.1. Đánh Giá Hiệu Quả của Các Giải Pháp Đề Xuất

Cần có những nghiên cứu sâu hơn để đánh giá hiệu quả của các giải pháp được đề xuất trong luận văn. Cần tiến hành các thử nghiệm, đánh giá thực tế để có những điều chỉnh phù hợp. Cần xây dựng các tiêu chí đánh giá khách quan, khoa học để đo lường sự tiến bộ của học sinh trong lĩnh vực thẩm mỹ.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Các Nhà Quản Lý Giáo Dục

Các nhà quản lý giáo dục cần quan tâm hơn nữa đến việc đầu tư cho giáo dục thẩm mỹ. Cần xây dựng các chính sách hỗ trợ giáo viên, học sinh và các trường học trong việc phát triển nghệ thuật. Cần tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục thẩm mỹ.

VI. Giáo Dục Thẩm Mỹ Tương Lai Phát Triển Tại Quảng Nam

Với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự nỗ lực của các nhà trường và gia đình, cùng với những giải pháp được đề xuất trong luận văn, giáo dục thẩm mỹ tại Quảng Nam có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Hy vọng rằng, thế hệ trẻ Quảng Nam sẽ được trang bị đầy đủ năng lực thẩm mỹ, có ý thức trách nhiệm với cộng đồng và đóng góp vào sự phát triển văn hóa của địa phương và đất nước.

6.1. Tiếp Tục Nghiên Cứu và Phát Triển Các Mô Hình Giáo Dục Thẩm Mỹ

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các mô hình giáo dục thẩm mỹ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Quảng Nam. Cần học hỏi kinh nghiệm của các địa phương khác trong cả nước và trên thế giới về giáo dục thẩm mỹ.

6.2. Xây Dựng Mạng Lưới Giáo Dục Thẩm Mỹ Toàn Diện

Cần xây dựng một mạng lưới giáo dục thẩm mỹ toàn diện, kết nối giữa nhà trường, gia đình, cộng đồng và các tổ chức văn hóa, nghệ thuật. Cần tạo ra một môi trường văn hóa phong phú, đa dạng để học sinh có thể tiếp cận và trải nghiệm nghệ thuật.

25/04/2025
Luận văn thạc sĩ vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh quảng nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I THẤM MỸ VÀ GIÁO DỤC THẮM MỸ 1.1, LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÁM MỸ 1. Các quan niệm thấm mỹ trong lịch sử 'Vẻ mặt lịch sử, quan niệm về thâm mỹ, về cái đẹp được bản luận rất nhiều, song chưa đi đến một quan điểm thống nhất hờ vào quá trình lao động cải tạo tự nhiên, cải tao bản thân con người dần phát hiện và nhận thức ra quy luật phô biển của cái đẹp khi con người đối chiếu, so sánh, nhận xét rằng: xấu thì con người đã nhận thức ra cái đẹp và dùng từ cải đẹp để chỉ bắt cứ điều gì dấy lên ở con người những xúc cảm va những cảm hứng tốt đẹp. Con người là chủ thể có ý thức, có khả năng cảm nhận được những cái hay, cái đẹp và cái xấu xí của sự phát triển đa dạng đó. Cái nảo đẹp được con người nâng niu, phát triển, cái nảo xấu xí bị bác bỏ, bị loại trừ, đó là năng lực thuộc về bản chất của loài người.

Cái đẹp trong tự nhiên biểu hiện bằng hình đáng, đường nét, màu sắc. Cái đẹp trong xã hội thể hiện trong phương thức giao tiếp, trong lối sống đạo đức, trong trật tự ki cương, pháp luật. Cái đẹp trong con người là cái đẹp của nhận thức, tình cảm và được biểu hiện bằng hành vi văn hóa, đạo đức, bằng lời ăn, tiếng nói hang ngày. Cái đẹp chính là cái thẩm mĩ.

Cái đẹp có ở mọi nơi, mọi lúc ‘Tham mj theo tiéng Hán: “thẩm” nghĩa là xem xét, “mỹ” là đẹp. Do đó Tham my la hiéu biết và thưởng thức cái đẹp. Cái đẹp giữ vị trí trung tâm trong đời sống thẩm mỹ, vì vậ nó là phạm trù của mỹ học. Phạm trù cái đẹp được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triên của tình cảm và ý thức con người.

12 Sự phát triển của quan điểm mỹ học về "cái đẹp" trong lịch sử tư tưởng, mỹ học đã đưa đến một khái niệm mang tính bao quát, trừu tượng về "cái đẹp". Sự phát triển quan niệm vẻ "cái đẹp" đồng thời cũng là quá trình đầu tranh tư tưởng của hai trưởng phái; chủ nghĩa duy vật vả duy tâm trong triết học. Trên cơ sở thế giới quan khác nhau, các nhà tư tưởng đã lý giải về "cái đẹp" và bản chất "cái đẹp" trên những lập trường khác nhau. “Trong tư tưởng mỹ học trước Mác, có ba quan niệm khác nhau về cái đẹp, ba nguyên tắc để giải quyết vấn đề "cái đẹp": theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan, chú nghĩa duy tâm khách quan và theo chú nghĩa duy vật trước Mác” [6, tr.244], Những nhà duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc cái dep là ý niệm khách quan, ý niệm này truyền linh hồn cho vật chất bắt động, cho thể giới thuộc phạm vi cảm tinh và vô vị về mặt thâm mỹ.

Chủ nghĩa duy vật trước Mác cho rằng “cai dep là một phẩm chất thắm mỹ tự nhiên, vốn có trong các hiện tượng của hiện thực” [6, tr. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, những thuộc tính thấm mỹ sơ đẳng cũng như những thuộc tính thâm mỹ phức tạp nhất đều tồn tại khách quan. Như thế, những hình thái “phổ cập” đơn giản nhất của cái đẹp lả: màu sắc, ánh sáng, hình thức, sự đối xứng, nhịp điệu, sự thống nhất trong. cái đa dạng, sự hòa hợp, sự thông nhất giữa toàn bộ và các bộ phận.

Trong quả trình lao động sản xuất đã sản sinh ra ở con người cảm xúc về “cái đẹp”. Lao động là nguồn gốc của các giá trị thẩm mỹ trên mặt đất, chẳng những thành quả của lao động mà ngay bản thân quá trình lao động, quá trình sáng tạo lả nguồn gốc của khoái cảm thâm mỹ. “Cái đẹp” nằm ngay trong bản thân quá trình sáng tạo, xây dựng, trong cảm xúc về những khả năng vô tận mở ra trước con người. Cái đẹp vừa là phạm trù cơ bản, vừa là phạm trù trung tâm của mỹ học.

Phạm trủ cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực, có cơ sở khách quan trong đời sống, 13 nhưng đồng thời nó cũng dùng để đánh giá tắt cả những hiện tượng thâm mỹ. tích cực, còn cái xấu được dùng để đánh giá phú định tắt cả những hiện tượng thấm mỹ tiêu cực trong hiện thực và trong nghệ thuật. Nhờ quá trình lao động cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân, con người dẫn dần phát hiện và nhận thức. ra qui luật phổ biển của cái đẹp.

Từ những sự quan sát bình thường chỉ ra cái gì đẹp, cái gì xấu, đến chỗ có thế định nghĩa về cái đẹp quả là một quá trình lâu dài, khó khăn trong lịch sử phát triển của mỹ học. Chính vì vậy, trước hết cái đẹp được hình thành khi con người biết đối chiếu, so sánh với cái xấu. “Cái đẹp” là sự hài hoà, sự đối xứng, sự tao nhã, sư linh hoạt, là cái có chất lượng, là cái trật tự. Cho nên việc tìm hiểu bản chất của cái đẹp gắn liền với những quan niệm vé cái đẹp của con người * Phạm trù cái đẹp trong mỹ học phương Đông cỗ đại 'Văn minh phương Đông với những đặc thủ riêng nên đã hình thành nên những tư tưởng triết học, và từ đó, những quan niệm về cái đẹp có nhiều điểm khác biệt với phương Tây.

Theo Nho giáo “Mỹ” gắn với “Thiện”,cái đẹp có trong mọi người, cái đẹp của con ngượi là sự tu đường đạo đức,học tập làm cho tính ác đi vào quỹ đạo của tính thiện. Không tử và Mạnh Tử đều thấy cái đẹp gắn liền với cái thiện. Đạo giáo cho rằng Cái đẹp của đạo chân chính là không đả không vơi, không thành, không mắt, không giới hạn của chủ thể.Cho nên Đạo giáo chủ trương cái đẹp tự nhiên:"Như hoa phù dung mới nhà Phật giáo coi cảnh giới Niết Bàn siêu thực, cái “không”, cái “trung, đạo” dứt bỏ mọi quan hệ nhân duyên, không còn giới hạn chủ thể khách thể lả cảnh giới tối cao của cái đẹp. Nếu Đạo giáo từ trong nhận thức chủ quan hy vọng điều hòa những mâu thuẫn trong đời sống hiện thực để đi vào chỗ hư 14 tịnh, thì Phật giáo lại bằng sự phủ định căn bản hiện thế để đi vào cửa “không” tìm cái đẹp hư áo.

*Phạm trù “cái đẹp” trong Mỹ học Hy Lạp cỗ đại Đời sống văn hóa nghệ thuật Hy Lạp cô đại cũng có sự phát triển rực rỡ, với các tác phẩm bắt hủ như lHiát và Ôđixê (Hôme), các vở kịch Ôrexti, Prômêtê bị xiễng (Étsin), Ơđíp vua, Ängtigôn (Xôphốc), Médé (Gripit), các vở kịch hải của Arixtôphan; các công trình kiến trúc nỗi như đền thờ thần Áetemit (ở thành phô Êphez), đền Atena và quần thể kiến trúc Aủcrôpôl, đền Páctenông (Phiđi và Ietinus): các tác phẩm điêu khắc mẫu mực như tượng không lỗ Atena cao 10 mét, tượng Đêtêmê, tượng thắn Zớt (Phiđi) Hécmét, Vệ nữ Cnidơ, Vệ nữ Ácli, các tượng Apôlông (Praxichen), v.v, với những tác phẩm hoàn mỹ như vậy, nghệ thuật của người Hy Lạp cổ đại đến ngày nay vẫn được giữ nguyên giá trị mẫu mực của nó. Vì vây, nó buộc các nhà tư tưởng thời bấy giờ phải lưu tâm nghiên cứu, đánh giá, nhân xét về chúng, tư tưởng mỹ học Hy Lạp cỗ đại hình thành từ đó. Theo Pitago (580-500 trước Công nguyên) con số lập nên bản chất mọi sự vật, từ đó cho rằng cái đẹp là do sự hài hòa giữa các con số hay nói cách khác “cái đẹp là sự hài hỏa trong quan hệ số lượng”. Ông chứng minh bing hiện tượng chất lượng âm thanh phụ thuộc vào chiều đài đây đàn và tìm ra quan hệ số lượng trong âm nhạc như quãng tám: 1:2 ; quảng năm: 2:3 ; quãng.

Ông đồng nhất hài hòa với hoàn thiện và vẻ đẹp bằng một hình thức chất phát, ông phát hiện sức mạnh của nghệ thuật khi cho rằng, có thẻ dùng. âm nhạc để chữa bệnh và giáo dục đạo đức công dân. Hêaclit (530-470 trước Công nguyên) - nhà thơ và triết gia vĩ đại theo xu hướng duy vật, xem xét sự vật theo quan điểm biện chứng sơ khai. Ông cho rằng, lửa là khởi nguyên của vũ trụ, thế giới tồn tại là do ngọn lửa vận động vĩnh cửu.

Hêraclit biện giải hải hỏa là sự thống nhất giữa những mâu 1S thuẫn và nó đạt được thông qua con đường đấu tranh giữa chúng, như độ tương phản giữa các mảu sắc, các âm thanh cao thấp, dài ngắn Hêraclit phát hiện tính chất tương đối của vẻ đẹp khi ông nhận định con khi đẹp nhất cũng xấu nếu đem so sánh với con người. Như vậy, HêracliL được coi là một trong những đại biểu sớm nhất giải thích các khái niệm thâm mỹ theo xu hướng duy vật và có tính chất biện chứng sơ khai. Đêmôcrít (460-370 trước Công nguyên) lý giải sự hình thành của nghệ thuật bằng các nguyên nhân vật chất: đó là sự bắt chước tự nhiên và các loài vật. Thi dụ, kiến trúc là bắt chước sự làm tổ của con nhện, con éi ; ca hát là bait chước chim sơn ca, họa mi; múa là bắt chước thiên nga.

Đó là các nguyên nhân trực tiếp của nghệ thuật, còn nguyên nhân gián tiếp thi ông phát hiện ra trong nhu câu của xã hội. Đêmôcrit nêu lên tính chất về mức độ của vẻ đẹp-là sự trung bình, vừa phái, không thừa, không thiếu. eu vượt quá mức độ, cái dễ chịu nhất cũng trở thành cái khó chịu”. Xôcrát (469-399 trước Công nguyên) - một nhà hiễn triết, xuất thân từ tầng lớp bình dan, triết học của ông có tính mục đích luận, và trọng tâm sự.

chú ý của hệ thống triết học Xôcrát là con người xem xét ở các góc độ hoạt động thực tiễn, hành vi, phẩm hạnh. Ông khẳng định sự vat nào cũng có thể là đẹp và cũng có thẻ không đẹp trong những tỉnh huống khác nhau. Xôcrát không phân biệt nghệ thuật với thủ công, bởi vì nghệ thuật theo ông, chỉ là sự. tái hiện thực chất bằng cách bắt chước, có điều nó không bắt chước, mô phỏng một cách đơn giản các đồ vật và hiện tượng mả thường liên kết các nét đã được chọn lọc ở các sự vật hiện tượng khác nhau vào một tác phẩm; sự vật được tái hiện như thế trong tác phẩm sẽ vươn lên tầm lý tưởng về sự hoàn mỹ cua nd.

Xôcrát còn đưa ra tiêu chí lựa chọn đối tượng để thể hiện trong tác 16 phẩm nghệ thuật, đó là những con người có tinh cách đẹp, nhân hậu, có phẩm hạnh cao. Lý tưởng đạo đức cần phái được kết tỉnh trong tác phẩm nghệ thuật 'Vì thế, tiêu chí nghệ thuật là tỉnh đúng đắn và sinh động của việc tái hiện các nguyên mẫu trong hiện thực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ