Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Phương pháp dạy học theo dự án trên thế giới [1] Dạy học DA là một trong những PPDH tiêu chuẩn ( Apel & Knoll) , được coi là một phương tiện qua đó người học có thể phát triển khả năng tự lập và trách nhiệm, khả năng thực hành các hoạt động xã hội và dân chủ. Được bắt nguồn từ châu Âu nhưng phương pháp DA là một sản phẩm chính hãng của phong trào giáo dục tiến bộ Mỹ.
Việc học tập thông qua các DA đã được bắt đầu từ 300 năm trước và có những biến động, di chuyển qua lại từ định nghĩa, cách thức tiến hành, phương thức áp dụng, mức độ phổ biến,… Từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ quốc gia/ châu lục này cho đến quốc gia/châu lục khác. Các nhà nghiên cứu và công trình tiêu biểu của họ đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lí luận của DHTDA là: Dewey, Richards, C. Ông đề cập tới dạy học DA là “hành động có mục đích bằng cả trái tim” – đề cao ý nghĩa “mục đích” của dạy học DA: cho HS tự do hành động nhằm phát triển sự độc lập, tư duy phê phán và năng lực hành động. Tư tưởng của William Heard Kilpatrick đã giảm dần mức độ ảnh hưởng ở Mỹ nhưng lại nhận được sự đón nhận của Châu Âu, Ấn Độ và Cộng hòa liên bang Xô – viết.
Từ năm 1965 đến nay: Phương pháp DA của Kilpatrick hiện được áp dụng như PPDH tích cực được tái thiết ở Đức, Thụy Sĩ và các nước châu Âu khác. Dưới ảnh hưởng của nền giáo dục tiểu học Anh, các nhà giáo dục Mỹ cố gắng xác định lại phương pháp DA, nhìn nhận nó như một PPDH phụ trợ quan trọng bên cạnh chương trình giảng dạy hướng vào chủ đề, hướng vào giáo viên (teacher - oriented, subject – centered) truyền thống. Có thể coi đây là giai đoạn tái thiết dạy học DA và làn sóng thứ ba của việc phổ biến dạy học DA có tính chất quốc tế. Ngày nay, DHTDA đang được áp dụng rất phổ biến trong tất cả các cấp học ở các nước tiên tiến trên thế giới.
Các DA học tập được HS thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phương pháp dạy học theo dự án ở Việt Nam Ở Việt Nam, DHTDA đã được sử dụng trong đào tạo, dạy học cao đẳng và đại học (ĐH) thông qua các đồ án tốt nghiệp các ngành học, bắt đầu là các trường ĐH kĩ thuật. Hiện nay, các hình thức bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận thực hiện trong các trường ĐH nói chung và trong đào tạo GV đã rất quen thuộc với sinh viên.
Trong giáo dục phổ thông, vào những năm 1960 –1980, ở các trường phổ thông cũng có những hoạt động gần gũi với DHTDA. Đặc biệt trong những năm 1980, cùng với sự phát triển của phong trào hướng nghiệp, nhiều trường đã thực hiện các DA như DA trồng cây, DA phát triển vườn trường. Tuy nhiên cho đến nay, DHTDA vẫn chưa được chú ý trong cả phạm vi đào tạo phổ thông và chưa được sử dụng như một PPDH phổ biến. Một số năm gần đây, một số cơ sở đào tạo đã bước đầu quan tâm đến PPDH này.
Với những ưu điểm vượt trội, DHTDA đã đang thu hút nhiều nhà nghiên cứu và DHTDA được đề cập nhiều hơn trong các tài liệu tiếng Việt với những tên gọi khác nhau như: Đề án, DHTDA, PPDHTDA, phương pháp DA. Với sự tăng cường hợp tác quốc tế, DHTDA đã được tăng cường giới thiệu và sử dụng ở Việt Nam thông qua các DA đào tạo bồi dưỡng GV như các chương trình : “Dạy học cho tương lai” của Intel (Intel Teach to the Future), “Đưa kĩ năng CNTT vào dạy học” (Partner in leaning) của Microsoft hoặc “Ứng dụng CNTT trong dạy học” (ICT in Education) do UNESCO tổ chức đã đề ra mục đích chính là giúp GV biết sử dụng máy vi tính, tài liệu trên internet để phát triển trí tưởng tượng của HS, dẫn dắt HS tới phương pháp học tập hiệu quả trên cơ sở của DHTDA. Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, cùng với việc thực hiện các DA phát triển giáo dục, DA GDMT, DHTDA bước đầu đã được áp dụng trong một số môn học. Việc đưa phương pháp DHTDA vào dạy học và việc triển khai DA trong thực tế đã phát triển chính thức thành một chiến lược dạy học ở nhiều môn học của các trường phổ thông thông qua chương trình bồi dưỡng GV.
Đáng chú ý là sự triển khai của chương trình dạy học và DA Việt – Bỉ ở nước ta. DA này đã đến với GV và HS ở các trường THCS, còn khối HS THPT chưa được tiếp cận với PPDH này một cách cụ thể và hệ thống nên còn được coi là PPDH mới mẻ. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đã có một số đề tài nghiên cứu về DHTDA cũng như dạy học DA nhằm GDMT ở Việt Nam như: * Đề tài: “ DHTDA và vận dụng trong đào tạo giáo viên trung học cơ sở môn công nghệ” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Diệu Thảo, Trường ĐHSP Hà Nội, 2009. * Đề tài: “ Phát triển năng lực chủ động tích cực học tập của HS trong dạy học hóa học thông qua hình thức dạy học DA” của Thạc sĩ Đặng Thị Minh Thu, Trường ĐH Giáo dục – ĐH Quốc gia Hà Nội, 2009.
* Đề tài: “Xây dựng và sử dụng hệ thống tư liệu về môi trường dùng trong dạy học hóa học hữu cơ lớp 12 ở trường Trung học phổ thông” của thạc sĩ Nguyễn Thị Quỳnh Anh, Trường ĐHSP Hà Nội, 2012. * Đề tài “ GDMT qua dạy học hóa học lớp 10, 11 ở trường phổ thông” của thạc sĩ Trần Thị Hồng Châu – Đại học sư phạm Thành Phồ Hồ Chí Minh, 2010. * Đề tài “ Tích hợp giáo dục BVMT vào dạy học chương 5: Nhóm halogen - Hóa học 10 nâng cao” của Nguyễn Thị Trang – Trường ĐH sư phạm Hà Nội 2, 2013. * Luận án tiến sĩ KHGD, “Vận dụng PPDHTDA trong dạy học phần hóa học phi kim chương trình hóa học THPT” của Phạm Hồng Bắc, Trường ĐHSP Hà Nội, 2013.
Tuy nhiên, vấn đề GDMT thông qua DHTDA chương nhóm Cacbon - Hóa học 11 nâng cao đến nay chưa có tác giả nào đề cập. Hơn nữa, việc nghiên cứu, xây dựng DA học tập tập trung vào một số chương và thực hiện chúng theo quan điểm tích hợp sẽ phát triển các năng lực chung và chuyên biệt của HS một cách hiệu quả hơn. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 1. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học Sự phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động phù hợp với nề kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về mặt năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi. Như vậy, giáo dục cần đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội và thị trường lao động. Sự đổi mới giáo dục trở thành nhiệm vụ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cấp thiết, được Bộ giáo dục và Đào tạo xác định cụ thể trong định hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020:“Cần tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục, tiếp tục đổi mới chương trình, đổi mới PP dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều; Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời gian giảng dạy lí thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho HS”. Xu hướng đổi mới PPDH ở Việt Nam Xu hướng đổi mới PPDH được chỉ rõ trong các văn kiện chỉ thị của Đảng và Chính phủ, như là: Văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam thời kì 2011 – 2020 đã xác định mục tiêu chung phát triển giáo dục – đào tạo là : “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trong giáo dục lí tưởng, gióa dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”.
Như vậy, cốt lõi của đổi mới PPDH hiện nay là: - Hướng tới giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, từ bỏ thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc. Coi trọng việc rèn luyện kĩ năng tự học cho HS. Phối hợp chặt chẽ những nỗ lực cá nhân trong việc tự học với việc học tập hợp tác trong nhóm. Thông qua sự hợp tác, HS có thể đạt đến trình độ cao hơn trong việc giải quyết các vấn đề học tập.
- Kế thừa, phát triển những ưu điểm trong hệ thống các PPDH truyền thống theo hướng phát huy tính tích cực của người học. Cung cấp các điều kiện hỗ trợ cho việc hình thành kiến thức bằng cách khuyến khích người học đặt ra câu hỏi quy trình học tập của bản thân có phù hợp với cách thức mà học đang sử dụng. Như thế , HS tự đào tạo bản thân thành những “chuyên gia học tập”. - Học hỏi, vận dụng một số PPDH mới phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy học ở địa phương.
Khuyến khích sử dụng các hình thức tổ chức hoạt động học tập ngoài lớp học, kết hợp với việc vận dụng các PPDH hiện đại để rèn luyện cho HS những kĩ năng cần thiết để có thể tự học suốt đời. Đổi mới PPDH đi đôi với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Một số biện pháp đổi mới PPDH ở nước ta hiện nay :[8],[15] - Đổi mới việc thiết kế và chuẩn bị bài dạy học. - Cải tiến các PPDH truyền thống và kết hợp đa dạng các PPDH.
- Vận dụng dạy học định hướng hành động. - Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và CNTT trong dạy học. - Sử dụng các kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo. - Tăng cường các PPDH đặc thù bộ môn.