Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý quá trình giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên Trường Đại học Trà Vinh Chương 2: Thực trạng quá trình GDCTTT và quản lý quá trình GDCTTT cho SV ở Trường ĐHTV. Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý quá trình GDCTTT cho SV Trường ĐHTV Phần 3: Kết luận và khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vấn đề giáo dục chính trị tư tưởng nói chung được Đảng ta rất quan tâm và được thể hiện khá cụ thể trong các văn kiện và các chủ trương, nghị quyết của Đảng ta, nhất là đối với học sinh sinh viên. Công tác bồi dưỡng, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ luôn được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng.
Đã có nhị: tác giả nghiên cứu về vấn đề nói trên và khẳng định trong giai đoạn hiện nay, trước bối cảnh mới học sinh sinh viên (HSSV) có nhiều cơ hội p xúc với nhiều nền văn hóa trên thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực, thì về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của mọi tầng lớp trong xã hội nói chung và học sinh sinh viên nói riêng có chiều hướng biến đổi vô cùng phứt tạp. Thực tế cho thầy, trong điều kiện mở cửa và hội nhập, do tiếp xúc. với một số quan điểm, tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, lối sống không phù hợp.
từ bên ngoài, không ít thanh niên, sinh viên (SV) đã dao động vẻ lập trường, mờ nhạt về lý tưởng, như Đảng ta nhận định: đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp. Quá trình GDCTTT cho thanh niên nói chung, SV nói riêng trong thời gian qua tuy đã được quan tâm nhưng chưa đạt hiệu quả cao; công tác quản lý quá trình GDCTTT cho SV còn nhiều bắt cập cả trong việc thực hiện chức. năng quản lý và quá trình quản lý. Vì vậy, việc GDCTTT cho SV va quan lý quá trình GDCTTT cho SV đang trở thành mối quan tâm thường xuyên không chỉ của các nhà quản lý giáo dục mà còn là của toàn xã hội.
Õ Trường Đại học Trà Vinh chưa có công trình nào nghiên có hệ thống, nhất là việc nghiên cứu vấn đề theo cách tiếp cận quản lý và quản lý quá trình GDCTTT cho SV. Từ những nghiên cứu nói trên, chúng tôi thấy rằng việc nghiên cứu và đề ât các biện pháp quan lý quá trình GDCTTT cho SV ở Trường ĐHTV là hết sức cần thiết. Góp phần nâng cao nâng cao giáo dục toàn diện cho sinh viên. CHUONG 1 CO SO LY LUAN CUA VAN DE NGHIEN CUU 1.
TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU Cho đến nay, đã có một số tác giả nghiên cứu vẻ chính trị tư tưởng và giáo. dục chính trị tư tưởng (GDCTTT). Chăng hạn, Đề tài nghiên cứu: “Cải tiến công, tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống xã hội chủ nghĩa (XHCN) cho học sinh, sinh viên” do tác giả Phạm Tắt Dong làm chủ nhiệm đề tài “Thye trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên học sinh, sinh viên trong chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do tác giả Trần Kiều làm chủ nhiệm đề tài đã đề cập một số khía cạnh của công tác GDCTTT cho sinh viên (SV) nhưng ở giai đoạn năm 2000. Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý đã được công bố thông qua các báo cáo, tham luận.
Các công trình nghiên cứu này đề cập đến quản lý quá trình GDCTTT và đưa ra các giải pháp nhằm đây mạnh công tác GDCTTT cho SV như: “Một số vấn đề về công tác tư tưởng và giáo dục đạo đức, chính trị trong SV” của Nguyễn Quốc Anh; “Báo cáo tông kết công tác sinh viên học sinh (SVHS) các trường ĐH, CÐ và THCN giai đoạn 2002 - 2005” tháng 8/2005; “Báo cáo của trường Đại học Luật thành phó Hồ Chí Minh về công. tác SV giai đoạn 2002 - 2005; “Giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho SV thông qua giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác ~ Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” của Vũ Thanh Binh; “Bay mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong sinh viên” của Nguyễn Viết Vượng [27]. Từ sự phân tích trên, chúng tôi thấy các công trình nghiên cứu về quản lý quá trình GDCTTT cho học sinh sinh viên phần nhiều đề cập vấn đề chung. chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý quá trình GDCTTT cho sinh 10 viên Trường Đại học Trà Vinh (ĐHTV).
Vì vậy, chúng tôi thấy rằng cần phải có các biện pháp Biện pháp hữu hiệu hơn nữa về quản lý quá trình GDCTTT cho sinh viên Trường ĐHTV trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần nang cao hiệu quả công tác chính trị tư tưởng và giáo dục toàn diện cho sinh viên. MỘT SÓ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Chính trị Nói một cách tông quát, chính trị là những hoạt động nhằm nâng cao. giác ngộ chính trị cho quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện đường lối, những nhiệm vụ chính trị nhất định.
Chính trị là những lĩnh vực đặc biệt, rất phức tạp, nó liên quan đến lợi ích trực tiếp của giai cấp và các lực lượng xã hội nên có nhiều cách tiếp cận và nhìn nhận khác nhau. Đề đạt được mục đích, của mình theo yêu cầu của mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi gia cấp phải tiến hành quản lý quá trình GDCTTT nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quan chúng, làm cho quần chúng nhận thức đầy đủ về mục đích, đường nhiệm vụ của cách mạng, từ đó tỗ chức quần chúng thực hiện đường lối và những nhiệm vụ nhất định. Tư tưởng là phản ánh của hiện thực trong ý thức, là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan. Công tác tư tưởng là một lĩnh vực hoạt động thuộc đời sống tin thần xã hội.
Tư tưởng có thể hiểu đó là sự suy nghĩ hoặc ý nghĩ. Hay cũng có thể hiểu là quan điểm, ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội 1. Giáo dục chính trị tư tưởng. Thuật ngữ “Giáo đực chính trị tư trởng” đã được sit dung rat phd biến trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều tài liệu sách báo.
cũng thường đề cập và thực tiễn đời sống, công tác cũng thường được dung " với nhiều gốc độ khác nhau tùy theo tính chất, đặc điểm, mục đích yêu cầu nghiên cứu mà có cách khai thác và tiếp cận khác nhau. Về mặt cấu trúc của khái niệm, thuật ngữ chính trị tư tướng là từ ghép giữa chính trị và tư tưởng. Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người. Đó cũng chính là sự dẫn dắt có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp của thế hệ trước đối với thế hệ sau, nên đó là con đường ngắn nhất giúp thế hệ trẻ bỏ qua những mò mẫn, vấp váp không cần thiết trong cuộc đời một con người.
dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. Với cách tiếp cận trên thì bản chất của giáo dục chính trị tư tưởng là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của một đảng, một giai cấp, một tổ chức quần chúng nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức tử tưởng của quần chúng về quan điểm, đường lối chính trị để quy tụ tập hợp quần chúng tham gia vào quá trình đấu tranh cách mạng giành, bảo vệ và thực thi quyền lực. chính trị đáp ứng thỏa mãn các nhu cầu về lợi ích. Trong trường đại học, GDCTTT là một hoạt động có mục đích, bao gồm các yếu tố: chủ thể, khách thể, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức.
Chủ thể của công tác GDCTTT là Đảng ủy, Ban Giám hiệu (BGH), cán bộ quản lý (CBQL), cán bộ giảng dạy (CBGD), các giáo viên chủ nhiệm (GVCN), cán bộ viên chức (CBVC),. Ban Tuyên huấn của Đảng ủy vừa là bộ phận tham mưu cho Đảng chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra vừa là lực lượng trực tiếp tiến hành công tác GDCTTT cho đối tượng là toàn thể cán bộ, đảng viên, CBVC nói chung và SV nói riêng. Quan ly Khái niệm quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau. quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ đề quản lý đến khách thể quản lý trong một tô chức nhằm làm cho tô chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[26].
“Quản lý là sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”[23, tr. Chúng tôi tâm đắc với cách hiểu: thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc. Hán) gồm 2 quá trình tích hợp vào nhau: Quản lý Quân Lý Coi Giữ Duy trì Sửa Sip Đổi Dua hé soe || gin sự ổn sang || xếp mới vào thể định phát triển > Chi c6 quan: tô chức sẽ trì trệ —> Chỉ có lý: phát triển không bền vững. Trong “quản” phải có “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực) Và khi đã ở thế cân bằng thì người quản lý sẽ thực hiện dễ dàng các chức.
năng quản lý đó là: Kể hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra. Theo quan niệm mới thì quản lý là hoạt động nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đề ra và tiến tới trạng thái chất lượng mới. Như vậy, có thể khái quát: Quản ÿý là một quá trình tác động gây ảnh *hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Quản lý quá trình GDCTTT cho SV Từ các khái niệm đã nêu, có thể hiểu Quản lý quá trình GDCTTT là những tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa ra công tác GDCTTT đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất.