Luận văn thạc sĩ giáo dục học quản lý quá trình giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trường đại học trà vinh trong giai đoạn hiện nay

Luận văn thạc sĩ giáo dục học về quản lý giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên Trường Đại học Trà Vinh trong giai đoạn hiện nay.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên

Quản lý quá trình giáo dục chính trị tư tưởng (GDCTTT) cho sinh viên là một nhiệm vụ chiến lược, có vai trò then chốt trong việc xây dựng thế hệ trẻ “vừa hồng, vừa chuyên”. Đây là quá trình tác động có mục đích và hệ thống của các chủ thể quản lý đến nhận thức, tình cảm và hành vi của sinh viên, nhằm hình thành ở họ thế giới quan khoa học, lý tưởng cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, công tác giáo dục chính trị tư tưởng càng trở nên cấp thiết, giúp sinh viên đứng vững trước những luồng tư tưởng phức tạp, tiêu cực và các thế lực thù địch. Luận văn này tập trung vào việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hiệu quả, dựa trên cơ sở lý luận về quản lý và thực tiễn tại Trường Đại học Trà Vinh. Mục tiêu cuối cùng là góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đào tạo ra những công dân có đủ đức, đủ tài, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia của nhiều lực lượng, từ Đảng ủy, Ban Giám hiệu đến các tổ chức đoàn thể và từng giảng viên. Theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc định hướng tư tưởng cho thanh niên, đặc biệt là đối tượng sinh viên – lực lượng trí thức tương lai của đất nước. Việc quản lý hiệu quả không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức lý luận, mà còn phải tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tạo môi trường rèn luyện thực tiễn để sinh viên vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minhđường lối của Đảng vào cuộc sống, từ đó nâng cao ý thức chính trị của sinh viên một cách tự giác và bền vững.

1.1. Khám phá cơ sở lý luận về quản lý quá trình GDCTTT cho SV

Cơ sở lý luận của việc quản lý quá trình GDCTTT cho sinh viên được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giáo dục. Quản lý được hiểu là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể nhằm đạt được mục tiêu chung. Trong quản lý giáo dục đại học, quá trình này bao gồm các chức năng cốt lõi: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Giáo dục chính trị tư tưởng là hoạt động tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, giúp đối tượng có được những phẩm chất và năng lực theo yêu cầu. Do đó, quản lý quá trình GDCTTT là tổng thể các tác động của nhà trường nhằm làm cho công tác sinh viên và giáo dục tư tưởng đạt hiệu quả cao nhất. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm đặc điểm tâm sinh lý sinh viên, môi trường kinh tế - xã hội, và vai trò của các lực lượng tham gia giáo dục.

1.2. Mục tiêu và nội dung cốt lõi của công tác giáo dục chính trị tư tưởng

Mục tiêu cao nhất của công tác giáo dục chính trị tư tưởng là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, trung thành với lý tưởng cách mạng. Cụ thể, mục tiêu hướng đến việc xây dựng cho sinh viên thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản; bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; và hình thành đạo đức lối sống sinh viên lành mạnh, có văn hóa. Nội dung GDCTTT tập trung vào việc truyền bá hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, nội dung còn bao gồm giáo dục pháp luật, giáo dục truyền thống dân tộc, và những giá trị đạo đức cốt lõi. Việc thực hiện các nội dung này phải được tiến hành một cách linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng và bối cảnh cụ thể.

II. Top thách thức trong quản lý giáo dục chính trị tư tưởng cho SV

Quá trình quản lý GDCTTT cho sinh viên tại Trường Đại học Trà Vinh đang đối mặt với nhiều thách thức đáng kể. Thực trạng giáo dục chính trị cho thấy, mặc dù đã có những nỗ lực nhất định, công tác quản lý vẫn còn nhiều bất cập. Một trong những khó khăn lớn nhất là nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý và giảng viên về tầm quan trọng của công tác này chưa thực sự sâu sắc. Khảo sát cho thấy (Bảng 2.1), dù phần lớn nhận thức đây là việc “Rất cần thiết”, vẫn còn một bộ phận xem nhẹ vai trò của GDCTTT so với đào tạo chuyên môn. Bên cạnh đó, tác động của toàn cầu hóakhông gian mạng và sinh viên mang đến cả cơ hội và thách thức. Sinh viên tiếp xúc với nhiều luồng thông tin đa chiều, thiếu chọn lọc, dễ bị ảnh hưởng bởi các quan điểm sai trái, lệch lạc. Một bộ phận sinh viên có biểu hiện “suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng”. Công tác lập kế hoạch còn mang tính hình thức, chung chung, chưa có sự phân công trách nhiệm rõ ràng. Sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Nội dung và phương pháp giáo dục còn khô cứng, chậm đổi mới, chưa thực sự hấp dẫn, thu hút được sinh viên. Những hạn chế này đòi hỏi cần có các giải pháp giáo dục sinh viên mang tính đột phá và hệ thống để nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng trong giai đoạn mới.

2.1. Phân tích thực trạng giáo dục chính trị tại Đại học Trà Vinh

Kết quả khảo sát tại Trường Đại học Trà Vinh cho thấy một bức tranh đa chiều về thực trạng giáo dục chính trị. Về nhận thức, 64,5% sinh viên và 59,7% cán bộ cho rằng công tác GDCTTT là “Rất cần thiết”. Tuy nhiên, các hình thức giáo dục hiệu quả như đối thoại với lãnh đạo (16,3%) hay lồng ghép qua môn chuyên ngành (29,3%) lại chưa được chú trọng đúng mức (Bảng 2.4). Về nội dung, nhà trường đã tập trung giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật và lòng yêu nước, nhưng các phẩm chất cần thiết cho thời kỳ hội nhập như khả năng thích ứng, tinh thần vượt khó lại chưa được quan tâm tương xứng. Công tác kiểm tra, đánh giá còn hình thức, chưa tạo động lực thực sự cho cả người dạy và người học, ảnh hưởng đến chất lượng chung của công tác sinh viên.

2.2. Nguyên nhân hạn chế trong định hướng tư tưởng cho thanh niên

Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý GDCTTT đến từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, tác động của toàn cầu hóa và kinh tế thị trường làm nảy sinh lối sống thực dụng, coi nhẹ các giá trị tinh thần. Về chủ quan, nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý còn hạn chế (44%) là nguyên nhân hàng đầu (Biểu đồ 2.5). Công tác xây dựng kế hoạch thiếu cụ thể, khoa học. Sự phối hợp giữa các lực lượng như phòng Công tác Sinh viên, Đoàn Thanh niên, và các khoa chuyên môn còn lỏng lẻo. Đặc biệt, phương pháp giảng dạy các môn lý luận chính trị chậm đổi mới, nặng về lý thuyết, chưa thu hút được sinh viên. Đây là những rào cản chính cần được tháo gỡ để định hướng tư tưởng cho thanh niên một cách hiệu quả.

III. Bí quyết nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng qua phối hợp lực lượng

Để nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng, biện pháp mang tính nền tảng là nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm cho toàn bộ đội ngũ cán bộ, giảng viên và cả sinh viên. Mọi thành viên trong nhà trường cần thấu hiểu rằng GDCTTT là nhiệm vụ chung, quyết định đến chất lượng đầu ra và uy tín của nhà trường. Đảng ủy và Ban Giám hiệu phải là hạt nhân lãnh đạo, chỉ đạo xuyên suốt, đảm bảo tính Đảng trong mọi hoạt động. Cần tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, các buổi hội thảo chuyên đề để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn trường. Một biện pháp quản lý giáo dục quan trọng khác là phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong và ngoài nhà trường. Sự phối hợp này tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp các hoạt động giáo dục được triển khai đồng bộ và sâu rộng. Trong nhà trường, cần có một cơ chế phối hợp rõ ràng giữa phòng Công tác Sinh viên, các khoa, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên và đội ngũ giáo viên chủ nhiệm. Vai trò của đoàn thể trong giáo dục cần được phát huy mạnh mẽ, biến các tổ chức này thành môi trường rèn luyện lý tưởng cho sinh viên. Bên cạnh đó, nhà trường cần mở rộng liên kết với các cơ quan, doanh nghiệp, các đơn vị quân đội để tổ chức các hoạt động thực tiễn, giúp sinh viên cọ xát với thực tế, từ đó củng cố niềm tin vào đường lối của Đảng và bồi đắp lý tưởng sống.

3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của công tác giáo dục chính trị tư tưởng

Nâng cao nhận thức là bước đi tiên quyết. Nhà trường cần làm cho mỗi cán bộ, giảng viên hiểu rằng “dạy người” đi trước “dạy chữ”. Giảng viên không chỉ truyền đạt kiến thức chuyên môn mà còn là tấm gương về đạo đức lối sống sinh viên noi theo. Đối với sinh viên, cần giúp các em hiểu rằng việc rèn luyện chính trị tư tưởng là trang bị hành trang quan trọng cho tương lai, là quá trình tự hoàn thiện bản thân để trở thành công dân có ích. Các buổi sinh hoạt chính trị đầu khóa, các diễn đàn, đối thoại cần được tổ chức thường xuyên để củng cố nhận thức này.

3.2. Phát huy vai trò của đoàn thể trong giáo dục và phối hợp liên ngành

Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên là “cánh tay nối dài” của Đảng trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Cần trao quyền và tạo điều kiện để các tổ chức này chủ động xây dựng các chương trình hành động sáng tạo, phù hợp với tâm lý giới trẻ. Vai trò của đoàn thể trong giáo dục thể hiện qua việc tổ chức các phong trào thi đua, các hoạt động ngoại khóa như “Mùa hè xanh”, “Hiến máu nhân đạo”, các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử, về tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhà trường, gia đình và xã hội sẽ tạo ra một môi trường giáo dục thống nhất, giúp sinh viên phát triển toàn diện.

IV. Phương pháp đổi mới nội dung giáo dục chính trị tư tưởng cho SV

Đổi mới và đa dạng hóa nội dung, hình thức, phương pháp GDCTTT là một trong những giải pháp giáo dục sinh viên cấp bách nhất hiện nay. Nội dung giáo dục cần thoát ly khỏi sự khô cứng, kinh viện, thay vào đó phải gắn liền với thực tiễn đời sống, giải quyết những vấn đề mà sinh viên quan tâm. Bên cạnh các kiến thức lý luận nền tảng, cần bổ sung các chuyên đề về kỹ năng mềm, về văn hóa khởi nghiệp, về những tấm gương thanh niên tiêu biểu. Hình thức tổ chức cũng cần được đa dạng hóa để tăng tính hấp dẫn. Thay vì các buổi báo cáo một chiều, nhà trường có thể tổ chức các diễn đàn tranh luận, các cuộc thi sân khấu hóa, các câu lạc bộ sở thích, các chuyến tham quan về nguồn. Đặc biệt, cần tận dụng thế mạnh của công nghệ thông tin và mạng xã hội để tuyên truyền, định hướng tư tưởng. Việc xây dựng các trang fanpage, các kênh youtube với nội dung bổ ích sẽ giúp tiếp cận sinh viên một cách hiệu quả hơn trong bối cảnh không gian mạng và sinh viên ngày càng gắn kết. Cải tiến phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là yếu tố cốt lõi. Giảng viên cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, tăng cường tương tác, thảo luận, giúp sinh viên tự khám phá tri thức, biến quá trình học tập thành quá trình tự nhận thức. Đây là con đường hiệu quả nhất để nâng cao ý thức chính trị của sinh viên.

4.1. Cải tiến hình thức giảng dạy và các hoạt động ngoại khóa đa dạng

Để thu hút sinh viên, các hình thức GDCTTT phải sinh động và sáng tạo. Trong giảng dạy, cần tăng cường sử dụng các phương tiện trực quan, tổ chức các buổi học thực tế, mời chuyên gia nói chuyện. Hoạt động ngoại khóa là môi trường lý tưởng để giáo dục kỹ năng và phẩm chất. Các hoạt động như hội trại, hội thao, các cuộc thi văn nghệ, các chiến dịch tình nguyện không chỉ tạo sân chơi lành mạnh mà còn giúp bồi đắp tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng và lòng nhân ái cho sinh viên. Việc lồng ghép các nội dung giáo dục một cách khéo léo vào các hoạt động này sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với các phương pháp truyền thống.

4.2. Kích thích ý thức chính trị của sinh viên thông qua tự giáo dục

Mọi quá trình giáo dục chỉ thực sự thành công khi biến thành quá trình tự giáo dục. Nhà trường cần tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên phát huy vai trò chủ thể trong việc rèn luyện bản thân. Điều này có thể thực hiện thông qua việc giao quyền tự quản cho các tập thể lớp, các câu lạc bộ, đội nhóm. Khi sinh viên được tự mình lập kế hoạch, tổ chức và đánh giá hoạt động, ý thức chính trị của sinh viên và tinh thần trách nhiệm sẽ được nâng cao. Giảng viên và cán bộ quản lý đóng vai trò là người cố vấn, định hướng, hỗ trợ thay vì làm thay. Nguyên tắc kết hợp giữa giáo dục và tự giáo dục là chìa khóa để xây dựng những con người năng động, sáng tạo và có bản lĩnh.

V. Cách áp dụng mô hình quản lý giáo dục tư tưởng hiệu quả tại ĐHTV

Áp dụng một mô hình quản lý giáo dục tư tưởng hiệu quả đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ của nhiều yếu tố, trong đó việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và cơ chế khen thưởng, kỷ luật hợp lý là hai trụ cột chính. Môi trường giáo dục có tính đồng thuận cao là nơi mọi thành viên, từ lãnh đạo đến nhân viên, giảng viên, đều là tấm gương sáng về đạo đức lối sống sinh viên noi theo. Kỷ cương học đường được giữ vững, mối quan hệ thầy – trò, bạn bè được xây dựng trên tinh thần tôn trọng, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Một môi trường sư phạm trong lành, dân chủ sẽ tự nó có sức mạnh giáo dục to lớn, kích thích ý thức tự giác rèn luyện của mỗi cá nhân. Bên cạnh đó, việc thực hiện chế độ khen thưởng, trách phạt kịp thời, công bằng là một công cụ quản lý hữu hiệu. Khen thưởng không chỉ là sự ghi nhận về vật chất mà còn là sự động viên về tinh thần, khích lệ những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong học tập và rèn luyện. Ngược lại, xử lý kỷ luật nghiêm minh những trường hợp vi phạm sẽ có tác dụng răn đe, giáo dục chung, góp phần duy trì trật tự, kỷ cương. Việc áp dụng thành công luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục vào thực tiễn sẽ góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác GDCTTT tại trường.

5.1. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh nâng cao đạo đức lối sống

Môi trường giáo dục là “xã hội thu nhỏ”, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của sinh viên. Để xây dựng môi trường lành mạnh, nhà trường cần chú trọng đến việc xây dựng văn hóa học đường, từ cách ứng xử của giảng viên đến thái độ học tập của sinh viên. Cơ sở vật chất, cảnh quan sư phạm cũng cần được quan tâm đầu tư. Các quy chế, nội quy phải được thực thi nghiêm túc, tạo ra một không khí học tập và sinh hoạt có kỷ luật. Khi được sống và học tập trong một môi trường tốt, đạo đức lối sống sinh viên sẽ được bồi đắp một cách tự nhiên và bền vững.

5.2. Tác động của cơ chế khen thưởng và kỷ luật trong công tác quản lý

Khen thưởng và kỷ luật là hai mặt của một quá trình, có tác động mạnh mẽ đến động cơ phấn đấu của sinh viên. Cần xây dựng các tiêu chí thi đua, đánh giá rõ ràng, công khai. Việc khen thưởng phải kịp thời, tôn vinh đúng người, đúng việc để tạo hiệu ứng lan tỏa. Các hình thức khen thưởng có thể đa dạng, từ học bổng, giấy khen đến việc giới thiệu các sinh viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp. Song song đó, việc xử lý kỷ luật phải công bằng, khách quan, mang tính giáo dục cao, giúp sinh viên nhận ra sai lầm và có hướng sửa chữa, tiến bộ.

VI. Tương lai của quản lý giáo dục tư tưởng cho sinh viên Việt Nam

Nhìn về tương lai, công tác quản lý GDCTTT cho sinh viên Việt Nam đứng trước những yêu cầu mới trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu rộng. Những kết quả nghiên cứu từ luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục này cho thấy, để thành công, cần có một chiến lược đồng bộ từ cấp vĩ mô đến vi mô. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm ban hành các văn bản pháp quy, các bộ tiêu chí đánh giá cụ thể để tạo hành lang pháp lý thống nhất cho các trường đại học. Các trường cần chủ động, sáng tạo trong việc xây dựng mô hình quản lý giáo dục phù hợp với đặc thù của mình. Công tác này không thể là nhiệm vụ riêng của các khoa lý luận chính trị hay phòng công tác sinh viên, mà phải là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị trong nhà trường. Định hướng tư tưởng cho thanh niên trong tương lai cần chú trọng hơn nữa đến việc trang bị kỹ năng tư duy phản biện, năng lực thích ứng và bản lĩnh văn hóa để sinh viên có thể tự tin hội nhập mà không hòa tan. Tác động của toàn cầu hóa đòi hỏi công tác GDCTTT phải vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, giúp sinh viên có cái nhìn toàn diện về các vấn đề quốc tế, từ đó bồi đắp tinh thần yêu nước chân chính và ý thức công dân toàn cầu. Đầu tư cho GDCTTT chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững của đất nước.

6.1. Tổng kết từ luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục và các khuyến nghị

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích sâu sắc thực trạng và đề xuất 6 nhóm biện pháp quản lý khả thi. Kết luận quan trọng rút ra là: để tăng cường quản lý GDCTTT, phải bắt đầu từ việc nâng cao nhận thức, sau đó là sự phối hợp đồng bộ, đổi mới toàn diện về nội dung và phương pháp, đồng thời phát huy vai trò chủ thể của sinh viên. Các khuyến nghị được đưa ra không chỉ cho Trường Đại học Trà Vinh mà còn có giá trị tham khảo cho các cơ sở giáo dục đại học khác. Đây là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, đóng góp thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng trong hệ thống giáo dục quốc dân.

6.2. Định hướng tương lai cho giáo dục chính trị trong bối cảnh toàn cầu hóa

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, giáo dục chính trị tư tưởng phải mang tầm nhìn mới. Cần giáo dục cho sinh viên không chỉ lòng tự hào dân tộc mà còn cả sự tôn trọng các nền văn hóa khác. Nội dung giáo dục cần cập nhật các vấn đề thời sự quốc tế, giúp sinh viên hiểu rõ vị thế, cơ hội và thách thức của Việt Nam trên trường quốc tế. Việc trang bị ngoại ngữ và kỹ năng làm việc trong môi trường đa văn hóa cũng là một phần quan trọng của công tác GDCTTT. Mục tiêu là tạo ra một thế hệ trẻ vừa có bản sắc dân tộc, vừa có năng lực hội nhập, đủ sức cạnh tranh và đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ giáo dục học quản lý quá trình giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trường đại học trà vinh trong giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý quá trình giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên Trường Đại học Trà Vinh Chương 2: Thực trạng quá trình GDCTTT và quản lý quá trình GDCTTT cho SV ở Trường ĐHTV. Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý quá trình GDCTTT cho SV Trường ĐHTV Phần 3: Kết luận và khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vấn đề giáo dục chính trị tư tưởng nói chung được Đảng ta rất quan tâm và được thể hiện khá cụ thể trong các văn kiện và các chủ trương, nghị quyết của Đảng ta, nhất là đối với học sinh sinh viên. Công tác bồi dưỡng, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ luôn được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng.

Đã có nhị: tác giả nghiên cứu về vấn đề nói trên và khẳng định trong giai đoạn hiện nay, trước bối cảnh mới học sinh sinh viên (HSSV) có nhiều cơ hội p xúc với nhiều nền văn hóa trên thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực, thì về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của mọi tầng lớp trong xã hội nói chung và học sinh sinh viên nói riêng có chiều hướng biến đổi vô cùng phứt tạp. Thực tế cho thầy, trong điều kiện mở cửa và hội nhập, do tiếp xúc. với một số quan điểm, tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, lối sống không phù hợp.

từ bên ngoài, không ít thanh niên, sinh viên (SV) đã dao động vẻ lập trường, mờ nhạt về lý tưởng, như Đảng ta nhận định: đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp. Quá trình GDCTTT cho thanh niên nói chung, SV nói riêng trong thời gian qua tuy đã được quan tâm nhưng chưa đạt hiệu quả cao; công tác quản lý quá trình GDCTTT cho SV còn nhiều bắt cập cả trong việc thực hiện chức. năng quản lý và quá trình quản lý. Vì vậy, việc GDCTTT cho SV va quan lý quá trình GDCTTT cho SV đang trở thành mối quan tâm thường xuyên không chỉ của các nhà quản lý giáo dục mà còn là của toàn xã hội.

Õ Trường Đại học Trà Vinh chưa có công trình nào nghiên có hệ thống, nhất là việc nghiên cứu vấn đề theo cách tiếp cận quản lý và quản lý quá trình GDCTTT cho SV. Từ những nghiên cứu nói trên, chúng tôi thấy rằng việc nghiên cứu và đề ât các biện pháp quan lý quá trình GDCTTT cho SV ở Trường ĐHTV là hết sức cần thiết. Góp phần nâng cao nâng cao giáo dục toàn diện cho sinh viên. CHUONG 1 CO SO LY LUAN CUA VAN DE NGHIEN CUU 1.

TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU Cho đến nay, đã có một số tác giả nghiên cứu vẻ chính trị tư tưởng và giáo. dục chính trị tư tưởng (GDCTTT). Chăng hạn, Đề tài nghiên cứu: “Cải tiến công, tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống xã hội chủ nghĩa (XHCN) cho học sinh, sinh viên” do tác giả Phạm Tắt Dong làm chủ nhiệm đề tài “Thye trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên học sinh, sinh viên trong chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do tác giả Trần Kiều làm chủ nhiệm đề tài đã đề cập một số khía cạnh của công tác GDCTTT cho sinh viên (SV) nhưng ở giai đoạn năm 2000. Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý đã được công bố thông qua các báo cáo, tham luận.

Các công trình nghiên cứu này đề cập đến quản lý quá trình GDCTTT và đưa ra các giải pháp nhằm đây mạnh công tác GDCTTT cho SV như: “Một số vấn đề về công tác tư tưởng và giáo dục đạo đức, chính trị trong SV” của Nguyễn Quốc Anh; “Báo cáo tông kết công tác sinh viên học sinh (SVHS) các trường ĐH, CÐ và THCN giai đoạn 2002 - 2005” tháng 8/2005; “Báo cáo của trường Đại học Luật thành phó Hồ Chí Minh về công. tác SV giai đoạn 2002 - 2005; “Giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho SV thông qua giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác ~ Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” của Vũ Thanh Binh; “Bay mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong sinh viên” của Nguyễn Viết Vượng [27]. Từ sự phân tích trên, chúng tôi thấy các công trình nghiên cứu về quản lý quá trình GDCTTT cho học sinh sinh viên phần nhiều đề cập vấn đề chung. chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý quá trình GDCTTT cho sinh 10 viên Trường Đại học Trà Vinh (ĐHTV).

Vì vậy, chúng tôi thấy rằng cần phải có các biện pháp Biện pháp hữu hiệu hơn nữa về quản lý quá trình GDCTTT cho sinh viên Trường ĐHTV trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần nang cao hiệu quả công tác chính trị tư tưởng và giáo dục toàn diện cho sinh viên. MỘT SÓ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Chính trị Nói một cách tông quát, chính trị là những hoạt động nhằm nâng cao. giác ngộ chính trị cho quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện đường lối, những nhiệm vụ chính trị nhất định.

Chính trị là những lĩnh vực đặc biệt, rất phức tạp, nó liên quan đến lợi ích trực tiếp của giai cấp và các lực lượng xã hội nên có nhiều cách tiếp cận và nhìn nhận khác nhau. Đề đạt được mục đích, của mình theo yêu cầu của mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi gia cấp phải tiến hành quản lý quá trình GDCTTT nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quan chúng, làm cho quần chúng nhận thức đầy đủ về mục đích, đường nhiệm vụ của cách mạng, từ đó tỗ chức quần chúng thực hiện đường lối và những nhiệm vụ nhất định. Tư tưởng là phản ánh của hiện thực trong ý thức, là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan. Công tác tư tưởng là một lĩnh vực hoạt động thuộc đời sống tin thần xã hội.

Tư tưởng có thể hiểu đó là sự suy nghĩ hoặc ý nghĩ. Hay cũng có thể hiểu là quan điểm, ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội 1. Giáo dục chính trị tư tưởng. Thuật ngữ “Giáo đực chính trị tư trởng” đã được sit dung rat phd biến trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều tài liệu sách báo.

cũng thường đề cập và thực tiễn đời sống, công tác cũng thường được dung " với nhiều gốc độ khác nhau tùy theo tính chất, đặc điểm, mục đích yêu cầu nghiên cứu mà có cách khai thác và tiếp cận khác nhau. Về mặt cấu trúc của khái niệm, thuật ngữ chính trị tư tướng là từ ghép giữa chính trị và tư tưởng. Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người. Đó cũng chính là sự dẫn dắt có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp của thế hệ trước đối với thế hệ sau, nên đó là con đường ngắn nhất giúp thế hệ trẻ bỏ qua những mò mẫn, vấp váp không cần thiết trong cuộc đời một con người.

dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. Với cách tiếp cận trên thì bản chất của giáo dục chính trị tư tưởng là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của một đảng, một giai cấp, một tổ chức quần chúng nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức tử tưởng của quần chúng về quan điểm, đường lối chính trị để quy tụ tập hợp quần chúng tham gia vào quá trình đấu tranh cách mạng giành, bảo vệ và thực thi quyền lực. chính trị đáp ứng thỏa mãn các nhu cầu về lợi ích. Trong trường đại học, GDCTTT là một hoạt động có mục đích, bao gồm các yếu tố: chủ thể, khách thể, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức.

Chủ thể của công tác GDCTTT là Đảng ủy, Ban Giám hiệu (BGH), cán bộ quản lý (CBQL), cán bộ giảng dạy (CBGD), các giáo viên chủ nhiệm (GVCN), cán bộ viên chức (CBVC),. Ban Tuyên huấn của Đảng ủy vừa là bộ phận tham mưu cho Đảng chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra vừa là lực lượng trực tiếp tiến hành công tác GDCTTT cho đối tượng là toàn thể cán bộ, đảng viên, CBVC nói chung và SV nói riêng. Quan ly Khái niệm quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau. quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ đề quản lý đến khách thể quản lý trong một tô chức nhằm làm cho tô chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[26].

“Quản lý là sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”[23, tr. Chúng tôi tâm đắc với cách hiểu: thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc. Hán) gồm 2 quá trình tích hợp vào nhau: Quản lý Quân Lý Coi Giữ Duy trì Sửa Sip Đổi Dua hé soe || gin sự ổn sang || xếp mới vào thể định phát triển > Chi c6 quan: tô chức sẽ trì trệ —> Chỉ có lý: phát triển không bền vững. Trong “quản” phải có “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực) Và khi đã ở thế cân bằng thì người quản lý sẽ thực hiện dễ dàng các chức.

năng quản lý đó là: Kể hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo, Kiểm tra. Theo quan niệm mới thì quản lý là hoạt động nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đề ra và tiến tới trạng thái chất lượng mới. Như vậy, có thể khái quát: Quản ÿý là một quá trình tác động gây ảnh *hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Quản lý quá trình GDCTTT cho SV Từ các khái niệm đã nêu, có thể hiểu Quản lý quá trình GDCTTT là những tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa ra công tác GDCTTT đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ