Luận văn thạc sĩ giáo dục học quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh attapư nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

Luận văn thạc sĩ giáo dục học phân tích thực trạng giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên tại các trường trung học phổ thông tỉnh Attapeu, Lào.

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Giáo Dục Học

2017

116
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Phạm vi nghiên cứu

7. Phương pháp nghiên cứu

8. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam

1.2. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.2. Bồi dưỡng giáo viên

1.2.3. Quản lý bồi dưỡng giáo viên

1.3. SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN THPT NƯỚC CHDCND LÀO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.4. CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN THPT NƯỚC CHDCND LÀO

1.4.1. Nội dung bồi dưỡng

1.4.2. Hình thức bồi dưỡng

1.4.3. Phương pháp bồi dưỡng

1.4.4. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng

1.5. QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN THPT NƯỚC CHDCND LÀO

1.5.1. Mục tiêu bồi dưỡng giáo viên

1.5.2. Nội dung quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường THPT nước CHDCND Lào

1.6. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG THPT NƯỚC CHDCND LÀO

1.6.1. Yếu tố chủ quan

1.6.2. Yếu tố khách quan

1.7. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH ATTAPƯ NƯỚC CHDCND LÀO

2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC - THỂ THAO

2.1.1. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

2.1.2. Khái quát tình hình phát triển giáo dục - thể thao tại tỉnh Attapư

2.1.3. Tình hình giáo dục trung học phổ thông

2.2. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA KHẢO SÁT THỰC TRẠNG

2.2.1. Mục đích khảo sát

2.2.2. Đối tượng khảo sát

2.2.3. Nội dung khảo sát

2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THPT TỈNH ATTAPƯ

2.3.1. Mục đích bồi dưỡng

2.3.2. Nội dung bồi dưỡng

2.3.3. Hình thức bồi dưỡng

2.3.4. Kết quả bồi dưỡng

2.4. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH ATTAPƯ

2.4.1. Thực trạng quản lý mục tiêu bồi dưỡng

2.4.2. Thực trạng quản lý kế hoạch bồi dưỡng giáo viên

2.4.3. Thực trạng quản lý nội dung bồi dưỡng

2.4.4. Thực trạng quản lý công tác tổ chức bồi dưỡng

2.4.5. Thực trạng quản lý công tác tự bồi dưỡng của giáo viên

2.4.6. Thực trạng quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng

2.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH ATTAPƯ

2.5.1. Đánh giá chung

2.6. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH ATTAPƯ NƯỚC CHDCND LÀO

3.1. CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP

3.1.1. Đảm bảo tính thực tiễn

3.1.2. Đảm bảo tính đồng bộ

3.1.3. Đảm bảo tính khả thi

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

3.2. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH ATTAPƯ NƯỚC CHDCND LÀO

3.2.1. Nâng cao nhận thức cho GV và cán bộ quản lý giáo dục về công tác bồi dưỡng giáo viên

3.2.2. Xây dựng và thực hiện kế hoạch QL đối với công tác BDGV

3.2.3. Cải tiến nội dung, hình thức và phương pháp BDGV THPT

3.2.4. Đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá hoạt động BD ĐNGV

3.2.5. Tạo các điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần để động viên GV tích cực tham gia BD và tự BD

3.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIỆN PHÁP

3.4. KHẢO NGHIỆM TÍNH CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT

3.4.1. Mục đích khảo nghiệm

3.4.2. Nội dung khảo nghiệm

3.4.3. Kết quả khảo nghiệm

3.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Toàn cảnh công tác bồi dưỡng giáo viên THPT tỉnh Attapư

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, hệ thống giáo dục Lào nói chung và chất lượng giáo dục tỉnh Attapư nói riêng đang đối mặt với những yêu cầu đổi mới cấp thiết. Nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ nhà giáo, được xem là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Luận văn của tác giả Chaleunsouk Seng đã đi sâu phân tích tầm quan trọng của quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường Trung học phổ thông (THPT) tại tỉnh Attapư. Đây là nhiệm vụ chiến lược nhằm nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT và mục tiêu phát triển giáo dục bền vững. Bồi dưỡng giáo viên không chỉ là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên môn mà còn là hoạt động bổ sung, bồi đắp những thiếu hụt, giúp giáo viên thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ. Hoạt động này cần được quản lý một cách khoa học và hệ thống, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, đánh giá. Một cán bộ quản lý giáo dục hiệu quả phải nhận thức sâu sắc rằng đầu tư vào phát triển chuyên môn cho giáo viên chính là đầu tư cho tương lai của thế hệ trẻ và sự thịnh vượng của quốc gia. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh Attapư có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho việc cải thiện chất lượng dạy và học.

1.1. Sự cấp thiết của việc nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào xác định phát triển giáo dục là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Người giáo viên đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp đổi mới này. Vì vậy, vấn đề nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên được đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ X (năm 2015) đã nhấn mạnh việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”. Tại tỉnh Attapư, đội ngũ giáo viên THPT còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới. Do đó, công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên, đặc biệt là năng lực dạy học, được coi là nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách.

1.2. Các khái niệm cốt lõi trong quản lý bồi dưỡng giáo viên

Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống các tác động có mục đích, kế hoạch của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Trong phạm vi nhà trường, quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên là một trong những nhiệm vụ chính của hiệu trưởng quản lý bồi dưỡng giáo viên. Hoạt động này bao gồm việc quản lý mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức và đánh giá quá trình bồi dưỡng. Bồi dưỡng giáo viên (BDGV) là quá trình bổ sung kiến thức còn thiếu hụt hoặc đã lạc hậu, cập nhật tri thức mới để nâng cao trình độ mọi mặt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một đội ngũ nhà giáo “lành nghề”, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

II. Thực trạng thách thức trong bồi dưỡng giáo viên tại Attapư

Việc phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên tại các trường THPT tỉnh Attapư là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp. Luận văn đã tiến hành khảo sát trên diện rộng, bao gồm 14 lãnh đạo và chuyên viên Sở Giáo dục, 24 hiệu trưởng, 25 tổ trưởng chuyên môn và 70 giáo viên. Kết quả cho thấy, dù đã có những nỗ lực nhất định, công tác quản lý bồi dưỡng vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém và bất cập. Nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên về tầm quan trọng của bồi dưỡng chưa sâu sắc. Việc xây dựng kế hoạch còn mang tính hình thức, chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế của giáo viên và nhà trường. Nội dung bồi dưỡng đôi khi còn dàn trải, chưa tập trung vào các kỹ năng cốt lõi theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT. Các hình thức bồi dưỡng chưa đa dạng, chủ yếu là tập huấn tập trung, thiếu các hoạt động sinh hoạt chuyên môn thực chất hay bồi dưỡng tại chỗ. Đặc biệt, khâu kiểm tra, đánh giá hiệu quả bồi dưỡng giáo viên chưa được chú trọng, dẫn đến việc khó đo lường được tác động thực tế của các chương trình bồi dưỡng. Những hạn chế này là rào cản lớn trong việc nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đòi hỏi phải có những giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên một cách đồng bộ và quyết liệt.

2.1. Phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên THPT

Kết quả khảo sát cho thấy, đại đa số giáo viên (85,95%) xác định mục đích tham gia bồi dưỡng là để có năng lực sư phạm vững vàng. Về nội dung, nhu cầu lớn nhất tập trung vào phát triển chuyên môn cho giáo viên (85% rất cần thiết) và nâng cao tay nghề, kỹ năng sư phạm (65,5% rất cần thiết). Tuy nhiên, các hoạt động bồi dưỡng hiện tại chưa đáp ứng tốt nhu cầu này. Kế hoạch bồi dưỡng dù được ban hành hàng năm nhưng việc lấy ý kiến đóng góp của giáo viên còn hạn chế (điểm trung bình 4.07/5). Việc triển khai kế hoạch đôi khi còn chậm trễ, ảnh hưởng đến hiệu quả chung.

2.2. Yếu kém trong quản lý nội dung và các hình thức bồi dưỡng

Nội dung bồi dưỡng thường xuyên chưa đủ giúp giáo viên bổ sung và hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp theo yêu cầu của chuẩn. Nhiều chương trình còn nặng về lý thuyết, thiếu tính ứng dụng thực tiễn. Về hình thức, khảo sát chỉ ra rằng hình thức hiệu quả nhất được giáo viên lựa chọn là hoạt động chuyên môn tại cơ sở (94,21%) và công tác tập huấn chuyên môn theo chuyên đề (90,08%). Tuy nhiên, các nhà trường chưa thực sự phát huy thế mạnh của các hình thức này. Các buổi sinh hoạt chuyên môn đôi khi còn mang tính hành chính, chưa đi sâu vào tháo gỡ khó khăn trong giảng dạy.

2.3. Hạn chế trong công tác tự bồi dưỡng và kiểm tra đánh giá

Công tác quản lý tự bồi dưỡng của giáo viên còn rất lỏng lẻo. Mặc dù đây là yếu tố quyết định hiệu quả bồi dưỡng, nhưng nhiều trường chưa có cơ chế chỉ đạo, kiểm tra và khuyến khích hoạt động này một cách bài bản. Hoạt động kiểm tra, đánh giá hiệu quả bồi dưỡng giáo viên cũng còn nhiều bất cập. Việc kiểm tra chưa thường xuyên, các tiêu chí đánh giá còn chung chung, chưa phản ánh đúng sự tiến bộ của giáo viên. Kết quả đánh giá ít được sử dụng để điều chỉnh, cải tiến các chương trình bồi dưỡng tiếp theo, làm giảm động lực phấn đấu của đội ngũ.

III. Phương pháp nâng cao nhận thức và kế hoạch bồi dưỡng GV

Để khắc phục những tồn tại, luận văn đề xuất nhóm biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên đầu tiên, tập trung vào yếu tố nền tảng là nhận thức và kế hoạch hóa. Đây là bước đi chiến lược, bởi mọi hoạt động chỉ thực sự hiệu quả khi chủ thể thực hiện - tức là cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên - nhận thức đúng đắn và đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của nó. Việc nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên phải bắt đầu từ việc thay đổi tư duy. Biện pháp này không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách mà còn phải tạo ra một môi trường sư phạm nơi mỗi giáo viên thấy được bồi dưỡng là quyền lợi và cũng là trách nhiệm nghề nghiệp. Song song với đó, việc xây dựng một kế hoạch bồi dưỡng khoa học, khả thi là chức năng cốt lõi của công tác quản lý. Kế hoạch này phải được xây dựng dựa trên sự phân tích kỹ lưỡng thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên, nhu cầu của từng cá nhân và mục tiêu chung của nhà trường. Một kế hoạch tốt sẽ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả, đồng thời là cơ sở để theo dõi, giám sát và đánh giá, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đổi mới công tác quản lý giáo dục.

3.1. Biện pháp nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên

Biện pháp này tập trung vào việc tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục. Cần tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo để các cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên hiểu rõ tầm quan trọng của việc bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT. Nhà trường cần xây dựng một môi trường học tập, khuyến khích tinh thần tự học, tự rèn luyện. Việc công nhận và tôn vinh những giáo viên tích cực tham gia bồi dưỡng và có nhiều tiến bộ sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ, biến nhận thức thành hành động tự giác.

3.2. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên khoa học khả thi

Kế hoạch bồi dưỡng phải bắt đầu từ việc khảo sát, phân loại và đánh giá thực trạng đội ngũ. Dựa trên kết quả đó, nhà trường xác định mục tiêu, nội dung, hình thức và thời gian bồi dưỡng cụ thể cho từng năm học, từng học kỳ. Kế hoạch cần có sự tham gia đóng góp ý kiến của các tổ chuyên môn và từng giáo viên để đảm bảo tính thực tiễn và phù hợp. Đặc biệt, kế hoạch phải dự kiến được các nguồn lực cần thiết (nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất) và các biện pháp thực hiện, tạo ra một lộ trình rõ ràng cho công tác phát triển chuyên môn cho giáo viên.

IV. Bí quyết cải tiến nội dung hình thức phương pháp bồi dưỡng

Sau khi có nhận thức đúng và kế hoạch tốt, yếu tố quyết định chất lượng chính là nội dung, hình thức và phương pháp bồi dưỡng. Luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên thông qua việc cải tiến toàn diện các yếu tố này. Nội dung bồi dưỡng cần được cập nhật thường xuyên, bám sát vào chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT và những yêu cầu thực tiễn của việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Thay vì các nội dung lý thuyết chung chung, cần tập trung vào các chuyên đề cụ thể, giải quyết những khó khăn mà giáo viên đang gặp phải trong quá trình giảng dạy. Hình thức bồi dưỡng cũng cần được đa dạng hóa. Bên cạnh các lớp tập huấn tập trung, cần đẩy mạnh các hình thức bồi dưỡng tại chỗ như dự giờ, thăm lớp, sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, bồi dưỡng từ xa cũng là một hướng đi hiệu quả. Cải tiến phương pháp bồi dưỡng theo hướng tăng cường thực hành, thảo luận nhóm, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau sẽ giúp nâng cao năng lực sư phạm một cách thực chất. Đây là chìa khóa để biến quá trình bồi dưỡng từ thụ động sang chủ động, sáng tạo.

4.1. Đổi mới nội dung bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên

Nội dung bồi dưỡng phải được thiết kế linh hoạt, tập trung vào 3 lĩnh vực chính của chuẩn nghề nghiệp: phẩm chất nhà giáo, năng lực dạy học, và năng lực giáo dục. Cần ưu tiên các nội dung như: đổi mới phương pháp dạy học, kỹ năng kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh, ứng dụng công nghệ thông tin, và kỹ năng giáo dục đạo đức, lối sống. Các nội dung này giúp giáo viên không chỉ vững về chuyên môn mà còn hoàn thiện về nghiệp vụ sư phạm.

4.2. Đa dạng hóa hình thức tập huấn chuyên môn sinh hoạt chuyên môn

Thay vì chỉ tổ chức các lớp tập trung, cần phát triển nhiều hình thức linh hoạt. Công tác tập huấn chuyên môn có thể được tổ chức theo cụm trường để tạo điều kiện giao lưu, học hỏi. Đặc biệt, cần nâng cao chất lượng các buổi sinh hoạt chuyên môn tại tổ, biến đây thành nơi trao đổi học thuật, nghiên cứu bài học và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn. Tổ chức các hội thi giáo viên dạy giỏi, các buổi thao giảng cũng là hình thức bồi dưỡng hiệu quả, thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, học tốt.

V. Cách đổi mới kiểm tra đánh giá và tạo điều kiện cho BDGV

Để đảm bảo các biện pháp quản lý mang lại hiệu quả thực sự, hai yếu tố cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá và tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên. Đây là nhóm biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên mang tính hỗ trợ và thúc đẩy. Hoạt động kiểm tra, đánh giá hiệu quả bồi dưỡng giáo viên không chỉ nhằm mục đích xếp loại mà quan trọng hơn là để thu thập thông tin phản hồi, xác định những mặt được và chưa được để kịp thời điều chỉnh. Việc đánh giá cần được thực hiện một cách khách quan, công bằng, dựa trên các tiêu chí rõ ràng và có sự tham gia của chính người được bồi dưỡng. Kết quả đánh giá phải là cơ sở để xây dựng kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, việc tạo các điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần là đòn bẩy quan trọng. Một chính sách giáo dục của Lào hợp lý, các chế độ đãi ngộ, khen thưởng kịp thời, cùng với việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị sẽ là nguồn động viên lớn, giúp giáo viên yên tâm và tích cực tham gia vào quá trình bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.

5.1. Quy trình kiểm tra đánh giá hiệu quả bồi dưỡng giáo viên

Cần xây dựng một quy trình kiểm tra, đánh giá khoa học, bao gồm cả đánh giá đầu vào (khảo sát nhu cầu), đánh giá trong quá trình (quan sát, thu thập phản hồi) và đánh giá đầu ra (bài thu hoạch, sản phẩm thực hành). Các tiêu chí đánh giá phải cụ thể, đo lường được sự tiến bộ của giáo viên về kiến thức, kỹ năng và thái độ. Kết quả kiểm tra cần được công khai, minh bạch và sử dụng làm căn cứ cho công tác thi đua, khen thưởng cũng như quy hoạch quản lý nhân sự trong trường học.

5.2. Chính sách hỗ trợ vật chất tinh thần cho đội ngũ giáo viên

Nhà trường và các cấp quản lý cần xây dựng cơ chế, chính sách rõ ràng để hỗ trợ giáo viên. Về vật chất, cần đảm bảo kinh phí cho các hoạt động bồi dưỡng, đầu tư thư viện, phòng máy tính, trang thiết bị dạy học hiện đại. Về tinh thần, cần có chế độ khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác bồi dưỡng. Vai trò của người hiệu trưởng quản lý bồi dưỡng giáo viên là rất quan trọng trong việc tạo ra một môi trường làm việc tích cực, nơi giáo viên được tôn trọng và khuyến khích phát triển.

VI. Kết luận và khuyến nghị cho bồi dưỡng giáo viên tại Lào

Nghiên cứu về quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường THPT tỉnh Attapư, Lào đã chỉ ra một cách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách. Từ việc phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên, luận văn đã đề xuất một hệ thống 5 nhóm biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên mang tính đồng bộ và khả thi cao. Các biện pháp này có mối quan hệ hữu cơ, hỗ trợ lẫn nhau, từ nâng cao nhận thức, cải tiến kế hoạch, đổi mới nội dung, hình thức, cho đến hoàn thiện khâu kiểm tra, đánh giá và tạo dựng môi trường thuận lợi. Việc áp dụng thành công các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên tại Attapư mà còn có thể là mô hình tham khảo cho các địa phương khác trong hệ thống giáo dục Lào. Để các biện pháp đi vào cuộc sống, cần có sự chỉ đạo quyết liệt từ các cấp quản lý, sự nỗ lực của các nhà trường và đặc biệt là ý thức tự giác, tinh thần cầu tiến của mỗi giáo viên. Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự đầu tư bền bỉ nhưng sẽ mang lại kết quả xứng đáng, góp phần nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục tỉnh Attapư.

6.1. Tổng kết các giải pháp nâng cao chất lượng giáo viên hiệu quả

Tóm lại, 5 biện pháp được đề xuất tạo thành một chu trình quản lý khép kín. Biện pháp nâng cao nhận thức là nền tảng tư tưởng. Biện pháp xây dựng kế hoạch là công cụ định hướng. Biện pháp cải tiến nội dung, hình thức, phương pháp là giải pháp chuyên môn cốt lõi. Biện pháp đổi mới kiểm tra, đánh giá là cơ chế giám sát và điều chỉnh. Cuối cùng, biện pháp tạo điều kiện là nguồn lực đảm bảo. Sự kết hợp đồng bộ của chúng sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ cho công tác phát triển chuyên môn cho giáo viên.

6.2. Khuyến nghị đối với các cấp quản lý giáo dục tại Lào

Luận văn khuyến nghị Sở Giáo dục tỉnh Attapư cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng dài hạn, định hướng cho các đơn vị. Đối với các trường THPT, cần chủ động, sáng tạo trong việc triển khai các biện pháp, phù hợp với đặc thù của đơn vị mình. Cần có chính sách giáo dục của Lào rõ ràng hơn trong việc thu hút và đãi ngộ giáo viên giỏi, đặc biệt ở các vùng khó khăn. Mỗi giáo viên cần nhận thức rõ trách nhiệm tự học, tự bồi dưỡng là yêu cầu tất yếu của nghề nghiệp trong bối cảnh mới, góp phần vào sự thành công của công cuộc đổi mới công tác quản lý giáo dục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ giáo dục học quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh attapư nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên trung học. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường trung học phô thông tỉnh Attapư nước CHDCND Lào. Chương 3: Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh Attapư nước CHDCND Lào. "Phân kết luận và khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phu lục.

CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY CONG TAC BOI DƯỠNG GIAO VIEN TRUNG HQC PHO THONG 1. TONG QUAN NGHIEN CUU VAN DE 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nhìn chung các quốc gia trên toàn cầu đều coi trọng công tác đảo tạo và bồi dưỡng GV để đội ngũ GV đạt chuẩn quy định của một quốc gia đó. Việc bồi dưỡng.

cho đội ngũ giáo viên thường được tô chức thông qua hình thức đào tạo, đào tạo lại và chủ yếu là hình thức bồi dưỡng thường xuyên. Vấn đề bồi dưỡng năng lực đội ngũ GV nói chung và NLDH nói riêng, từ xưa đến nay đã được nhiều nước trên thế giới và nhiều tác giả quan tâm đến. Năm 1998, trong công bố do UNSECO khu vực tổ chức tại Neepal về tổ chức. QL trường đại học đã khẳng định “Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển GD”' Các trường Sư phạm ở Australia, New Zealand, Canada,.

thành lập các đơn vị bồi dưỡng tạo thuận lợi cho GV tham gia học tập. Ở Philipin, việc bồi dưỡng GV được thực hiện trong các khóa bồi dưỡng vào 4 kỳ nghỉ hè và phân định nội dung trong các khóa bồi dưỡng đó về: Nội dung môn học, nội dung và phương pháp GD; nghiên cứu GD, viết tài liệu giám sát trong GD, các kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, sách giáo khoa, sách tham khảo,. Tại Pakistan, đối với GV mới vào nghề chưa được 3 năm có chương trình bồi dưỡng về Sư phạm do nhà nước quy định trong thời gian 3 tháng với các nội dung như GD nghề nghiệp, phương pháp giảng dạy, cơ sở tâm lý của GD, đánh giá và nhận xét học sinh, ngoại ngữ và tin học. Tai Nhật Bản, bồi dưỡng và đào tạo lại GV và cán bộ QLGD là nhiệm vụ bắt buộc đối với đội ngũ này.

Tùy theo tình hình cụ thể của các trường mà từ 3 đến 5 năm GV lại được bồi dưỡng hoặc đảo tạo một lần theo các chuyên môn mới và đổi mới phương pháp giảng dạy. Tại Triều Tiên, là nước có chính sách tích cực về bồi dưỡng và đảo tạo lại GV và cán bộ QLGD đương nhiệm. Nhà nước đã đưa ra các chương trình lớn như: *Chương trình bồi dưỡng GV mới” dé bồi dưỡng cho GV trong mười năm. Tại Việt Nam, khi có luật GD (1998) thì trình độ chuẩn của GV các cắp học và xác định việc tuyến chọn, bồi dưỡng, hoạt động giáo dục đã được thống nhất chỉ đạo một cách toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Từ đó công tác đảo tạo, bồi dưỡng nhằm đạt chuẩn, vượt chuân về trình độ, năng lực, nghiệp vụ cho GV có. kết quả đáng kể. Bộ GD và ĐT đã xây dựng chương trình bồi dưỡng thường xuyên GV phổ thông theo các chu kỳ I (1992-1996), chu kỳ II (1996-2000), chu ky III (2003-2007). Ngoài ra, các lớp QLGD ở cơ sở còn tô chức bồi dưỡng GV về chính trị, pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ.

Các nghiên cứu ở Nam Tại nước Lào, sau khi giải phóng đất nước (1975), do thiếu GV nên việc sử dụng lại GV lưu dung, thì việc đào tạo ngắn hạn, cấp tốc GV là hình thức chủ yếu để đáp ứng quy mô GD và mạng lưới trường lớp ngày càng phát triển. Giai đoạn này công tác bồi dưỡng đội ngũ GV được đặc biệt chú trọng, được thực hiện trong hè và cả năm học với nội dung chủ yếu là bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, quan điểm GD theo chính sách của nhà nước. Từ đó đến năm 1996 Bộ giáo dục đã thành. lập trung tâm bồi dưỡng GV Tiểu học, trung tâm hỗ trợ chuyên môn bậc trung học thuộc Sở Giáo dục trong các tỉnh trên cả nước để vận dụng trong việc chỉ đạo thực hiện mục tiêu GD và định hướng cho việc xây dựng đội ngũ GV các bậc học theo phương châm đào tạo kết hợp với sử dụng; bồi dưỡng GV trên cơ sở để cao tự bồi dưỡng của các cơ sở và tự học của GV.

VỀ khoa học giáo dục, đây là giai đoạn nở rộ các công trình nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn GD ở tắt cả các cấp và có sức thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Một số công trình ở nước ngoài, các tác giả M. đã đề cập và làm sáng tỏ vai trò của phẩm chất, năng lực và những đặc điểm lao động của người GV. Keophouthong khi nghiên cứu về quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Quốc gia Viêng Chăn (Lào) đã đưa ra các giải pháp về phát triển số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giải pháp về đầu tư tài chính, cơ sở vật chất cho giảng viên. Tại Việt Nam, nhị u công trình nghiên cứu về vai trò của người GV, kỹ năng.

sư phạm, đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng GV làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng và phát triển GV. Chẳng hạn, dé tài khoa học cấp nhà nước có mã số KX07-04 “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” [6]. Đã bàn sâu về lĩnh vực có nhiều diện khá rộng, trong đó có đề cập đến vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV. Các tác giả Nguyễn Văn Lê với “Nghề thầy giáo”; Tôn Thân với “Vai trò của người GV trong quá trình dạy học”, Tạp chí nghiên cứu GD 11/1996; Phạm Quang Huân với “Một số giải pháp quản lý tổ chức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trong tình hình hiện nay” đã đề cập đến giải pháp mang tính vĩ mô áp dụng cho việc QL tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ GV; Nguyễn Phi Long với “Một số giải pháp QL phát triển đội ngũ giáo viên THPT tại tỉnh Ninh Thuận”; Vũ Hữu Mai với “Biện pháp tô chức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên tỉnh Nam Định”, đã tập trung chủ yếu về vấn đề tổ chức bồi dưỡng phương pháp giảng dạy từng bộ môn hoặc từng tiết học cụ thé .; Trần Hữu Cảnh (2006) với “Các giải pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao NLDH cho đội ngũ giáo viên THPT huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”, đề tài tập trung đến công tác quản lý của Hiệu trưởng trường THPT trong hoạt động dạy học,.

Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã đi sâu tìm hiểu chỉ ra những vấn đề xoay quanh NLDH của người giáo viên. Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng NLDH cho giáo viên THPT thì còn ít công trình đề cập tới. Riêng tỉnh Attapư nước CHDCND Lào chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đè quản lý công tác bồi dưỡng NLDH cho đội ngũ giáo viên THPT trên địa bàn tỉnh. Attapư để đáp ứng yêu cầu đổi mới chất lượng GD trong giai đoạn hiện nay.

CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CUA DE TAL 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường a. Quan Ij QL là một chức năng lao động xã hội được bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động, nó ra đời khi xã hội cắn có sự chỉ huy, điều hành, phân công, hợp tác, kiểm tra, chỉnh lý. Trong lao động tập thể trên một quy mô nào đó đề đạt năng suất cao, hiệu quả tốt hơn thì phụ thuộc rất lớn vào vai trò của người đứng đầu một tổ chức.

Như vậy, QL là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử Thực tế đã chứng minh rằng loài người đã trải qua nhiều hình thái phát tri xã hội khác nhau nên cũng đã trải qua nhiều hình thức QL khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của QL trong sự tồn tại, ôn định và phát triển xã hội. Khái niệm QL được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau đó là: Cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức. Theo góc độ điều chỉnh thì QL là lái, là điều kiện, điều chỉnh.

Theo cach tiép cận hệ thống thì QL là sự tác động của chủ thẻ QL đến khách thể QL (hay là đối tượng QL) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất để đạt được mục đích đã định. Còn trong quá trình tồn tại và phát triển của QL, đặc biệt trong quá trình xây. dựng lý luận về QL, khái niệm QL được nhiều nhà lý luận đặt ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt đọng nghiên cứu của mỗi người. Theo từ điển Tiềng Việt: “QL là trong coi, giữ gìn theo yêu cầu nhất định” hoặc “QL là tổ chức điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định” [35, tr.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê - Nin đã khẳng định: “Bắt cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần đến sự QL” [7] Theo tác giả Harld Koontz - 1994, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của QL” thì: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm” [23, tr2]. Còn quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam về QL như sau: Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QL là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thê QL đến đối tượng bị QL trong tô chức đề vận hành tô chức. nhằm đạt much đích nhất định” [33, tr.30] Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo (1997) “QL là sự tác động chỉ huy, điều khiên, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi goạt động của con người nhằm đạt tới mục dich da dé ra” [19, tr. Từ những khái niệm QL của những nhà khoa học khác nhau ta có thê hiéu: QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL đến khách thể QL bao gồm nhiều giải pháp khác nhau thông qua cơ chế QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt tới mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.

Từ khái niệm QL nêu trên ta thấy: ~ QL bao giờ cũng có mục tiêu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ