Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên trung học. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường trung học phô thông tỉnh Attapư nước CHDCND Lào. Chương 3: Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh Attapư nước CHDCND Lào. "Phân kết luận và khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phu lục.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY CONG TAC BOI DƯỠNG GIAO VIEN TRUNG HQC PHO THONG 1. TONG QUAN NGHIEN CUU VAN DE 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nhìn chung các quốc gia trên toàn cầu đều coi trọng công tác đảo tạo và bồi dưỡng GV để đội ngũ GV đạt chuẩn quy định của một quốc gia đó. Việc bồi dưỡng.
cho đội ngũ giáo viên thường được tô chức thông qua hình thức đào tạo, đào tạo lại và chủ yếu là hình thức bồi dưỡng thường xuyên. Vấn đề bồi dưỡng năng lực đội ngũ GV nói chung và NLDH nói riêng, từ xưa đến nay đã được nhiều nước trên thế giới và nhiều tác giả quan tâm đến. Năm 1998, trong công bố do UNSECO khu vực tổ chức tại Neepal về tổ chức. QL trường đại học đã khẳng định “Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển GD”' Các trường Sư phạm ở Australia, New Zealand, Canada,.
thành lập các đơn vị bồi dưỡng tạo thuận lợi cho GV tham gia học tập. Ở Philipin, việc bồi dưỡng GV được thực hiện trong các khóa bồi dưỡng vào 4 kỳ nghỉ hè và phân định nội dung trong các khóa bồi dưỡng đó về: Nội dung môn học, nội dung và phương pháp GD; nghiên cứu GD, viết tài liệu giám sát trong GD, các kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, sách giáo khoa, sách tham khảo,. Tại Pakistan, đối với GV mới vào nghề chưa được 3 năm có chương trình bồi dưỡng về Sư phạm do nhà nước quy định trong thời gian 3 tháng với các nội dung như GD nghề nghiệp, phương pháp giảng dạy, cơ sở tâm lý của GD, đánh giá và nhận xét học sinh, ngoại ngữ và tin học. Tai Nhật Bản, bồi dưỡng và đào tạo lại GV và cán bộ QLGD là nhiệm vụ bắt buộc đối với đội ngũ này.
Tùy theo tình hình cụ thể của các trường mà từ 3 đến 5 năm GV lại được bồi dưỡng hoặc đảo tạo một lần theo các chuyên môn mới và đổi mới phương pháp giảng dạy. Tại Triều Tiên, là nước có chính sách tích cực về bồi dưỡng và đảo tạo lại GV và cán bộ QLGD đương nhiệm. Nhà nước đã đưa ra các chương trình lớn như: *Chương trình bồi dưỡng GV mới” dé bồi dưỡng cho GV trong mười năm. Tại Việt Nam, khi có luật GD (1998) thì trình độ chuẩn của GV các cắp học và xác định việc tuyến chọn, bồi dưỡng, hoạt động giáo dục đã được thống nhất chỉ đạo một cách toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Từ đó công tác đảo tạo, bồi dưỡng nhằm đạt chuẩn, vượt chuân về trình độ, năng lực, nghiệp vụ cho GV có. kết quả đáng kể. Bộ GD và ĐT đã xây dựng chương trình bồi dưỡng thường xuyên GV phổ thông theo các chu kỳ I (1992-1996), chu kỳ II (1996-2000), chu ky III (2003-2007). Ngoài ra, các lớp QLGD ở cơ sở còn tô chức bồi dưỡng GV về chính trị, pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ.
Các nghiên cứu ở Nam Tại nước Lào, sau khi giải phóng đất nước (1975), do thiếu GV nên việc sử dụng lại GV lưu dung, thì việc đào tạo ngắn hạn, cấp tốc GV là hình thức chủ yếu để đáp ứng quy mô GD và mạng lưới trường lớp ngày càng phát triển. Giai đoạn này công tác bồi dưỡng đội ngũ GV được đặc biệt chú trọng, được thực hiện trong hè và cả năm học với nội dung chủ yếu là bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, quan điểm GD theo chính sách của nhà nước. Từ đó đến năm 1996 Bộ giáo dục đã thành. lập trung tâm bồi dưỡng GV Tiểu học, trung tâm hỗ trợ chuyên môn bậc trung học thuộc Sở Giáo dục trong các tỉnh trên cả nước để vận dụng trong việc chỉ đạo thực hiện mục tiêu GD và định hướng cho việc xây dựng đội ngũ GV các bậc học theo phương châm đào tạo kết hợp với sử dụng; bồi dưỡng GV trên cơ sở để cao tự bồi dưỡng của các cơ sở và tự học của GV.
VỀ khoa học giáo dục, đây là giai đoạn nở rộ các công trình nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn GD ở tắt cả các cấp và có sức thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Một số công trình ở nước ngoài, các tác giả M. đã đề cập và làm sáng tỏ vai trò của phẩm chất, năng lực và những đặc điểm lao động của người GV. Keophouthong khi nghiên cứu về quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Quốc gia Viêng Chăn (Lào) đã đưa ra các giải pháp về phát triển số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giải pháp về đầu tư tài chính, cơ sở vật chất cho giảng viên. Tại Việt Nam, nhị u công trình nghiên cứu về vai trò của người GV, kỹ năng.
sư phạm, đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng GV làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng và phát triển GV. Chẳng hạn, dé tài khoa học cấp nhà nước có mã số KX07-04 “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” [6]. Đã bàn sâu về lĩnh vực có nhiều diện khá rộng, trong đó có đề cập đến vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV. Các tác giả Nguyễn Văn Lê với “Nghề thầy giáo”; Tôn Thân với “Vai trò của người GV trong quá trình dạy học”, Tạp chí nghiên cứu GD 11/1996; Phạm Quang Huân với “Một số giải pháp quản lý tổ chức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên trung học cơ sở trong tình hình hiện nay” đã đề cập đến giải pháp mang tính vĩ mô áp dụng cho việc QL tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ GV; Nguyễn Phi Long với “Một số giải pháp QL phát triển đội ngũ giáo viên THPT tại tỉnh Ninh Thuận”; Vũ Hữu Mai với “Biện pháp tô chức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên tỉnh Nam Định”, đã tập trung chủ yếu về vấn đề tổ chức bồi dưỡng phương pháp giảng dạy từng bộ môn hoặc từng tiết học cụ thé .; Trần Hữu Cảnh (2006) với “Các giải pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao NLDH cho đội ngũ giáo viên THPT huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”, đề tài tập trung đến công tác quản lý của Hiệu trưởng trường THPT trong hoạt động dạy học,.
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã đi sâu tìm hiểu chỉ ra những vấn đề xoay quanh NLDH của người giáo viên. Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng NLDH cho giáo viên THPT thì còn ít công trình đề cập tới. Riêng tỉnh Attapư nước CHDCND Lào chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đè quản lý công tác bồi dưỡng NLDH cho đội ngũ giáo viên THPT trên địa bàn tỉnh. Attapư để đáp ứng yêu cầu đổi mới chất lượng GD trong giai đoạn hiện nay.
CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CUA DE TAL 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường a. Quan Ij QL là một chức năng lao động xã hội được bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động, nó ra đời khi xã hội cắn có sự chỉ huy, điều hành, phân công, hợp tác, kiểm tra, chỉnh lý. Trong lao động tập thể trên một quy mô nào đó đề đạt năng suất cao, hiệu quả tốt hơn thì phụ thuộc rất lớn vào vai trò của người đứng đầu một tổ chức.
Như vậy, QL là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử Thực tế đã chứng minh rằng loài người đã trải qua nhiều hình thái phát tri xã hội khác nhau nên cũng đã trải qua nhiều hình thức QL khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của QL trong sự tồn tại, ôn định và phát triển xã hội. Khái niệm QL được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau đó là: Cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức. Theo góc độ điều chỉnh thì QL là lái, là điều kiện, điều chỉnh.
Theo cach tiép cận hệ thống thì QL là sự tác động của chủ thẻ QL đến khách thể QL (hay là đối tượng QL) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất để đạt được mục đích đã định. Còn trong quá trình tồn tại và phát triển của QL, đặc biệt trong quá trình xây. dựng lý luận về QL, khái niệm QL được nhiều nhà lý luận đặt ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt đọng nghiên cứu của mỗi người. Theo từ điển Tiềng Việt: “QL là trong coi, giữ gìn theo yêu cầu nhất định” hoặc “QL là tổ chức điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định” [35, tr.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê - Nin đã khẳng định: “Bắt cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần đến sự QL” [7] Theo tác giả Harld Koontz - 1994, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của QL” thì: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm” [23, tr2]. Còn quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam về QL như sau: Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QL là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thê QL đến đối tượng bị QL trong tô chức đề vận hành tô chức. nhằm đạt much đích nhất định” [33, tr.30] Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo (1997) “QL là sự tác động chỉ huy, điều khiên, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi goạt động của con người nhằm đạt tới mục dich da dé ra” [19, tr. Từ những khái niệm QL của những nhà khoa học khác nhau ta có thê hiéu: QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL đến khách thể QL bao gồm nhiều giải pháp khác nhau thông qua cơ chế QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt tới mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Từ khái niệm QL nêu trên ta thấy: ~ QL bao giờ cũng có mục tiêu.