Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Chương 3: Biện pháp quản lý công tác bồi dường chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh trung học cơ sở ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. 12 + Xác định và phân phối các nguồn lực, các điều kiện cần thiết.
~ Tổ chức: Là quá trình hình thành các quan hệ và cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm tạo cơ chế đảm bảo sự phối hợp, điều phối tốt các nguồn lực, các điều kiện cho việc thực hiện thành công kế hoạch, chương trình hành động và nhờ đó mà đạt được mục. tiêu tổng thể của tổ chức. Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận cùng các công việc của chúng và sau đó là vấn đề nhân sự, gồm việc xác định và nhóm gộp các hoạt động, giao phó quyền hành của người quản lý và tạo ra sự phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức một cách khoa học, có hiệu quả. ~ Chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có quá trình tác động chỉ đạo.
Chỉ đạo bao hàm cả việc liên kết các thành viên và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ. ~ Kiểm tra: Là chức năng của quản lý nhằm đánh giá, phát hiện và điều chỉnh kịp thời giúp cho hệ quản lý vận hành tối ưu, đạt mục tiêu đề ra. Kiểm tra là nhằm xác định kết quả thực tế so với yêu cầu tiến độ và chất lượng vạch. ra trong kế hoạch, phát hiện những sai lệch, để ra những biện pháp uốn nắn điều chinh kịp thời.
Kiểm tra không chỉ là giai đoạn cuối cùng của chu trình. quản lý, mà luôn cần thiết trong suốt từ đầu đến cuối quá trình thực thi kế hoạch. Ngoài bốn chức năng cơ bản, truyền thống nói trên, nghiên cứu quá trình quản lý trong điều kiện xã hội thông tin, gần đây nhiều công trình đã đưa thông tin quản lý như là một chức năng không thể thiếu. Quá trình quản lý thường diễn ra theo một chu kỳ gọi là chu trình quản lý.
Quản lý giáo dục Theo M.Zade, “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính.) nhằm đảm 13 bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như. Theo tác giả Trần Kiểm, “Khái niệm QLGD có nhiều cấp độ. Ít nhất có hai cắp độ chủ yếu: Cấp vĩ mô và cấp vi mô. ~ Đối với cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tắt cả các mắc xích của hệ thống (từ cắp cao nhất đến các cơ sở giáo dục.
của nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phat trién giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD. ~ Đối với cấp vi mô: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thé hoc sinh, cha me, hoc sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có. chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường” [18]. Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng, QLGD hay QL trường học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống GD vận hành theo đường lối và nguyên tắc GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm là hội tụ quá trình dạy học, GD thể hệ trẻ, đưa hệ thống GD đến mục tiêu dự kiến, tiến đến trạng thái mới vẻ chất.
QLGD còn được hiểu là tập hợp những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống nhà trường, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng về số lượng lẫn chất lượng của hệ thống nhà trường. Từ những quan niệm đã nêu, trên bình diện tổng quát, có thể hiểu QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật, của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra. 14 Quản lí giáo dục gồm ba lĩnh vực ~ Quản lí chính sách (hoạch định chính sách, lập kế hoạch, thực hiện chính sách và phân bố nguồn lực); ~ Quản lí hành chính (sử dụng nguồn lực tài chính, con người và vật chất); ~ Quản lí sư phạm (sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy hoc qua trình giáo dục, kết quả học tập). So với các loại hình quản lí khác, QLGD có những đặc trưng 1.
Bồi dưỡng, lưỡng chuyên môn cho giáo viên a. Bồi dưỡng Trước tiên, theo từ điển bách khoa Việt Nam, đào tạo là quá trình tác động đến một con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghỉ với cuộc sống và có khả năng nhận được sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [30]. 'Như vậy đào tạo là hình thành ở người học một trình độ mới, cao hơn trình độ trước đó của họ. Người được đào tạo sẽ được nâng từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn và điều đó được khẳng định bằng một văn bằng tương ứng, Từ điển tiếng Việt định nghĩa, bồi dường là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.
Theo các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng được hiểu như sau: Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực. hoạt động mà ngườ lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó. BD có ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến 15 thức hay kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của lao động nghề nghiệp. Theo tác giả Nguyễn Minh Đường, "Bồi dưỡng có thể là một quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ" [12], Từ những khái niệm bồi dưỡng đã trình bày ở trên cho ta thấy: ~ Chủ thể của quá trình BD đã được đào tạo để có một trình độ chuyên môn nhất định; - Thực chất của quá trình BD là để bổ sung, cập nhật kiến thức và kỳ năng còn thiếu hoặc lạc hậu nhằm nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn dưới một hình thức phù hợp; ~ Mục đích BD là nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn đã có sẵn, giúp cho công việc đang làm đạt được hiệu quả tốt hơn.
Qua các định nghĩa trên, ta thấy BD đó là một quá trình nhằm trang bị hoặc trang bị thêm kiến thức kỹ năng cho mỗi con người nhằm mục đích hoàn thiện, nâng cao kỹ năng sống và hoạt động thực tiễn trong mỗi lĩnh vực nhất định. BD là một dạng hoạt động của con người, mà trong hoạt động ấy con người bộc lộ về mặt tâm lý hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của mình. BD thực chất là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn qua hình thức đào tạo nhất định. Trong quá trình BD, vai trò chủ thể người học là yếu tố quyết định chất lượng các hoạt động BD, thông qua con đường tự học, tự BD và phát huy nội lực cá nhân.
Chuyên môn Theo từ điển tiếng Việt, chuyên môn được hiểu theo 2 nghĩa [30] 21 Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 — 2010 dé ra mục tiêu tổng quát là *Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rột đời sống vật chất, văn hoá, tỉnh thần của nhân dân tạo nền tảng dé đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá” [8]. Để đạt được những mục tiêu nêu trên giáo dục và khoa học công nghệ có vai trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là bức thiết. Các giải pháp phát triển giáo dục là “Đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục; phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục; đổi mới quan lí giáo dục; tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hi thống giáo dục quốc dân và phát triển mạng lưới trường lớp và các cơ sở giáo dục; tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho giáo dục; đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục; đây mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục. Trong đó đổi mới chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là những giải pháp trọng tâm, phần đấu.
đến năm 2005 tất cả GV trung học cơ sở đều có trình độ cao đăng trở lên, trong đó những giáo viên trưởng phó bộ môn có trình độ đại học. Giáo viên được thường xuyên tham gia các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ” [8]. iém cua giáo viên tiếng Anh THCS Giáo viên tiếng Anh THCS là những người được đảo tạo trong các trường cao đẳng, đại học chuyên ngành tiếng Anh có cùng một nhiệm vụ là giáo dục và rèn luyện học sinh, giúp các em có trình độ về môn học để tiếp tục theo học các bậc học cao hơn, đồng thời giúp các em hiểu thêm về nền văn hoá khác qua môn học. Giáo viên tiếng Anh THCS gắn bó với mục đích, mục tiêu đào tạo của tổ chức nhà trường.
Giáo viên nói chung và GV tiếng Anh nói riêng là một trong tám thành tố quan trọng của quá trình dạy học, GV có vai trò quyết định cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục.