Luận văn thạc sĩ giáo dục học biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường thpt tỉnh quảng nam trong giai đoạn hiện nay

Luận văn thạc sĩ giáo dục học phân tích biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT tỉnh Quảng Nam giai đoạn hiện nay.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

154
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tầm quan trọng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý THPT Quảng Nam

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vai trò của giáo dục và đào tạo trở thành quốc sách hàng đầu. Nghị quyết Đại hội Đảng XI đã nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam… trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) các trường THPT là lực lượng nòng cốt, quyết định trực tiếp đến chất lượng dạy và học. Việc xây dựng và áp dụng các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT tỉnh Quảng Nam không chỉ là nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục địa phương mà còn là yếu tố chiến lược để phát triển nguồn nhân lực giáo dục chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

1.1. Vai trò của hiệu trưởng trong công cuộc đổi mới giáo dục

Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng nhân tố quyết định và dẫn dắt chính là đội ngũ nhà giáo và CBQL. Trong đó, vai trò của hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng là hạt nhân trung tâm. Họ không chỉ là người quản lý hành chính mà còn là nhà lãnh đạo chuyên môn, người truyền cảm hứng và tạo động lực cho toàn bộ hội đồng sư phạm. Một người hiệu trưởng có năng lực sẽ biết cách tổ chức, điều hành mọi hoạt động của nhà trường một cách khoa học, hiệu quả. Theo Điều lệ trường trung học, hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất, có thẩm quyền quyết định các vấn đề từ xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy, đến quản lý tài chính và nhân sự. Do đó, việc nâng cao năng lực cán bộ quản lý chính là đòn bẩy để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giúp các trường THPT phát huy năng lực tự chủ và sáng tạo trong bối cảnh mới.

1.2. Mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực giáo dục

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 và các đề án của Chính phủ như Quyết định 09/2005/QĐ-TTg đều xác định mục tiêu cốt lõi là “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu”. Mục tiêu này đòi hỏi một quá trình phát triển toàn diện, bao gồm cả đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và sử dụng hiệu quả. Phát triển đội ngũ CBQL không chỉ dừng lại ở việc tăng số lượng mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực quản trị. Việc này nhằm tạo ra một đội ngũ CBQL có đủ tâm, đủ tầm, có khả năng dẫn dắt nhà trường vượt qua thách thức, thực hiện thành công mục tiêu đổi mới công tác quản lý giáo dục, góp phần đào tạo thế hệ học sinh phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của xã hội.

II. Thực trạng quản lý giáo dục tại Quảng Nam và các thách thức

Mặc dù Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Nam đã có nhiều nỗ lực, công tác phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT trên địa bàn tỉnh vẫn còn đối mặt với không ít hạn chế và thách thức. Việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng quản lý giáo dục tại Quảng Nam là cơ sở khoa học quan trọng để đề xuất các giải pháp khả thi. Các vấn đề nổi cộm bao gồm sự mất cân đối về cơ cấu, những hạn chế về chất lượng chuyên môn và năng lực quản lý, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu đổi mới giáo dục ngày càng cao. Những bất cập này nếu không được giải quyết kịp thời sẽ trở thành rào cản lớn đối với sự phát triển của giáo dục phổ thông tỉnh nhà.

2.1. Phân tích số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý

Theo khảo sát trong luận văn, tỉnh Quảng Nam có 146 CBQL tại 51 trường THPT. Về số lượng, con số này cơ bản đáp ứng quy định. Tuy nhiên, cơ cấu đội ngũ lại cho thấy sự thiếu đồng bộ rõ rệt. Tỷ lệ nữ CBQL chỉ chiếm 6,16%, trong đó nữ hiệu trưởng chỉ là 3,92%, một con số rất thấp so với tỷ lệ 60,5% giáo viên nữ. Về độ tuổi, có đến 45,21% CBQL ở độ tuổi từ 51-60, tập trung nhiều ở chức danh hiệu trưởng. Điều này cho thấy đội ngũ đang có xu hướng già hóa, tiềm ẩn nguy cơ hụt hẫng thế hệ lãnh đạo kế cận và hạn chế sự năng động, sáng tạo cần thiết. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ kế cận và cần có chính sách khuyến khích, phát triển cán bộ quản lý nữ.

2.2. Đánh giá chất lượng chuyên môn và năng lực thực tiễn

Chất lượng là yếu tố đáng lo ngại nhất. Mặc dù 100% CBQL đạt chuẩn về trình độ chuyên môn (đại học), nhưng tỷ lệ trên chuẩn (thạc sĩ) còn rất thấp, chỉ chiếm 13,7%. Đáng chú ý, chỉ có 10,27% CBQL có bằng thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục. Nhiều người làm quản lý dựa vào kinh nghiệm cá nhân, thiếu kiến thức khoa học quản lý bài bản. Một điểm yếu chí mạng khác là trình độ ngoại ngữ và tin học. Đa số CBQL chỉ có chứng chỉ B ngoại ngữ và chứng chỉ A/B tin học, chưa đáp ứng được yêu cầu của quản trị trường học hiện đại và hội nhập quốc tế. Năng lực xây dựng chiến lược, tham mưu chính sách và tổ chức thực hiện các đổi mới còn hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các nhà trường.

III. Phương pháp quy hoạch và đổi mới quản lý nhân sự trường học

Để khắc phục những hạn chế về cơ cấu và chất lượng, việc đề xuất và thực hiện đồng bộ các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL là nhiệm vụ trọng tâm. Hai giải pháp nền tảng được xác định là xây dựng quy hoạch một cách khoa học và đổi mới công tác quản lý giáo dục liên quan đến nhân sự. Các biện pháp này cần được triển khai một cách bài bản, minh bạch, dựa trên những nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa, phát triển bền vững và phù hợp với thực tiễn của tỉnh Quảng Nam. Đây là những bước đi chiến lược nhằm xây dựng một đội ngũ quản lý vững mạnh cho tương lai.

3.1. Lập và thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ kế cận bài bản

Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ kế cận phải được xem là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu để giải quyết bài toán hẫng hụt thế hệ lãnh đạo. Quy hoạch cần được xây dựng dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng đội ngũ, dự báo nhu cầu phát triển của từng trường và toàn ngành. Quá trình này phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, lựa chọn những giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn và tiềm năng quản lý vào nguồn quy hoạch. Cần chú trọng quy hoạch cán bộ nữ, cán bộ trẻ để tạo ra cơ cấu đội ngũ cân đối, hài hòa. Sau khi có quy hoạch, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Nam cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cụ thể cho từng đối tượng trong nguồn, tạo điều kiện cho họ được rèn luyện, thử thách qua các nhiệm vụ thực tế để chuẩn bị sẵn sàng cho các vị trí quản lý trong tương lai.

3.2. Đổi mới công tác bổ nhiệm luân chuyển cán bộ quản lý

Việc quản lý nhân sự trường học cần được đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt trong công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại và luân chuyển CBQL. Quá trình bổ nhiệm phải dựa trên tiêu chuẩn hóa chức danh, kết quả đánh giá năng lực thực tế và tín nhiệm của tập thể, thay vì chỉ dựa vào thâm niên công tác. Luận văn đề xuất cần cụ thể hóa các tiêu chuẩn theo Chuẩn Hiệu trưởng của Bộ GD&ĐT để làm căn cứ. Bên cạnh đó, thực hiện tốt công tác luân chuyển CBQL giữa các trường, các vùng miền (đồng bằng, miền núi) sẽ giúp cán bộ có thêm kinh nghiệm thực tiễn, khắc phục tình trạng cục bộ, trì trệ. Việc luân chuyển cũng tạo cơ hội cho các cán bộ trẻ phát huy năng lực và tạo động lực phấn đấu cho toàn đội ngũ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chung.

IV. Bí quyết nâng cao năng lực cán bộ quản lý qua đào tạo bồi dưỡng

Năng lực của đội ngũ CBQL là yếu tố quyết định sự thành công của nhà trường. Do đó, đầu tư vào công tác đào tạo, bồi dưỡng chính là đầu tư cho tương lai của giáo dục. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế lại theo hướng hiện đại, tập trung vào việc trang bị những kiến thức và kỹ năng lãnh đạo cho cán bộ quản lý giáo dục một cách thực chất. Song song với đào tạo, công tác kiểm tra, đánh giá thường xuyên và minh bạch sẽ là công cụ hữu hiệu để giám sát và thúc đẩy sự tiến bộ của mỗi cá nhân, đảm bảo đội ngũ CBQL luôn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục.

4.1. Chuẩn hóa công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho CBQL cần được thực hiện theo hướng chuẩn hóa và cập nhật liên tục. Nội dung bồi dưỡng không chỉ xoay quanh kiến thức quản lý nhà nước mà cần tập trung vào các kỹ năng thiết yếu như: lập kế hoạch chiến lược, quản trị sự thay đổi, kỹ năng giải quyết vấn đề, ứng dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ trong quản lý. Cần đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng: tập trung, tại chức, trực tuyến, tham quan học tập kinh nghiệm tại các mô hình trường học tiên tiến. Đặc biệt, cần có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện để CBQL theo học các chương trình sau đại học, nhất là chuyên ngành Quản lý giáo dục, nhằm nâng cao năng lực cán bộ quản lý một cách căn cơ và bền vững.

4.2. Tăng cường hiệu quả đánh giá năng lực hiệu trưởng CBQL

Hoạt động đánh giá năng lực hiệu trưởng và CBQL cần được thực hiện định kỳ, nghiêm túc và thực chất. Việc đánh giá phải dựa trên bộ tiêu chuẩn cụ thể, được xây dựng từ Chuẩn Hiệu trưởng ban hành theo Thông tư 29/2009/TT-BGDĐT. Quá trình đánh giá cần có sự tham gia của nhiều bên: cấp trên trực tiếp, tập thể giáo viên, nhân viên trong trường. Kết quả đánh giá không chỉ để xếp loại thi đua mà phải là căn cứ quan trọng cho việc quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cá nhân. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Nam để kịp thời phát hiện những yếu kém, tư vấn, hỗ trợ và yêu cầu các CBQL khắc phục, tự hoàn thiện, qua đó nâng cao trách nhiệm và hiệu quả công tác.

V. Cách xây dựng môi trường làm việc và chính sách đãi ngộ hiệu quả

Bên cạnh các yếu tố về quy hoạch và đào tạo, môi trường làm việc và các chính sách liên quan đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo động lực, giữ chân và phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ CBQL. Một môi trường làm việc tích cực sẽ khơi dậy sự sáng tạo và tinh thần cống hiến. Đồng thời, những chính sách đãi ngộ cán bộ quản lý hợp lý, công bằng sẽ là sự ghi nhận xứng đáng cho những nỗ lực của họ, giúp họ yên tâm công tác và toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp phát triển giáo dục của tỉnh nhà.

5.1. Xây dựng môi trường làm việc hiệu quả dân chủ hợp tác

Việc xây dựng môi trường làm việc hiệu quả trong các trường THPT là trách nhiệm hàng đầu của người đứng đầu. Môi trường đó phải được đặc trưng bởi không khí dân chủ, cởi mở, nơi mọi thành viên được tôn trọng, được lắng nghe và được đóng góp ý kiến. Hiệu trưởng cần phát huy quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện cho các tổ chức đoàn thể hoạt động mạnh mẽ. Sự đoàn kết, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm giữa các thành viên trong ban giám hiệu và giữa ban giám hiệu với hội đồng sư phạm là nền tảng tạo nên sức mạnh tổng hợp của nhà trường. Một môi trường làm việc tích cực không chỉ làm tăng hiệu quả công việc mà còn giúp ngăn ngừa các xung đột không đáng có, tạo sự gắn kết bền vững trong tập thể.

5.2. Hoàn thiện chính sách đãi ngộ cán bộ quản lý tương xứng

Chính sách đãi ngộ là một trong những công cụ tạo động lực quan trọng nhất. Cần nghiên cứu và hoàn thiện các chính sách đãi ngộ cán bộ quản lý cả về vật chất lẫn tinh thần. Về vật chất, cần đảm bảo chế độ lương, phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên và các chế độ khác được thực hiện đầy đủ, kịp thời, có thể nghiên cứu các chính sách hỗ trợ riêng của tỉnh. Về tinh thần, cần có các hình thức khen thưởng, vinh danh kịp thời đối với những CBQL có thành tích xuất sắc, có nhiều cống hiến. Tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, kinh phí để CBQL được học tập nâng cao trình độ, được tham gia các hội thảo khoa học. Sự quan tâm và ghi nhận đúng mức của các cấp lãnh đạo sẽ giúp CBQL cảm thấy được trân trọng, từ đó cống hiến hết mình cho sự nghiệp giáo dục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ giáo dục học biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường thpt tỉnh quảng nam trong giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE PHAT TRIEN DOI NGU CÁN BO QUAN LY TRUONG TRUNG HQC PHO THONG 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CUU VAN DE. Ở bắt kỳ giai đoạn phát triển nào của lịch sử GD, việc xây dựng đội ngũ CBQLGD là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng GD, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Các tư tưởng QL sơ khai đều xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy.

Lạp và cô Trung Hoa. Sự đóng góp của các nhà triết học cỗ Hy Lạp về QL tuy còn ít ỏi nhưng đáng ghỉ nhận: Điển hình là tư tưởng của Xô-crát (469- 399 Tr.N), Pla-tôn (427-347 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr. Thời Trung Hoa cổ đại đã công nhận các chức năng QL, đó là các chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức, tác động, kiểm tra. Đặc biệt, các nhà tư tưởng và chính trị lớn là Không Tử (551-478 Tr.CN), Mạnh Tử (372-289 Tr.CN), Thương Ưởng (390- 338 Tr.CN) đã nêu lên tư tưởng QL “Đức trị, Lễ trị” lấy chữ Tín làm đầu.

Những tư tưởng QL trên vẫn có ảnh hưởng khá sâu sắc đến các nước phương Đông ngày nay. Giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là giai đoạn mang tư tưởng. QL chủ nghĩa tư bản. Khoa học QL từng bước tách ra khỏi triết học và trở thành bộ môn khoa học độc lập, có sự tham gia đóng góp của nhiều trường phái: Thuyết quản lý khoa học; Thuyết hành chính; Trường phái tác phong (trường phái quan hệ giữa con người với con người trong QL); Thuyết tô chức trong quản lý; Thuyết hành vi.

Trong Bộ Tư bản, Mác đã coi vai trò của nhà QL giống như vai trò của nhạc trưởng trong dàn nhạc.Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [8, tr. 480] Ở Việt Nam, Khoa học quản lý tuy còn non trẻ, song nó đã có những. thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả QL xã hội trong những điều kiện cụ thể, tương ứng với tình hình phát triển KT-XH của đất nước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, đề ra được những giải pháp QL trong lĩnh vực QL và phát triển GD&ĐT Việt Nam.

Có thể kể đến một số tác giả và công trình nghiên cứu như: tác giả Nguyễn Ngọc Quang với nghiên cứu “Những khái niệm cơ bản về lý luận QLGD” đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của QL, QLGD, các đối tượng của khoa học QLGD; tác giả Đăng Bá Lãm, tác giả Phạm Thành Nghị với “Chính sách và kế hoạch phát triển trong QLGD” đã phân tích khá sâu sắc về lý thuyết và mô hình chính sách, các phương pháp lập kế hoạch GD; tác giả Vũ Ngọc Hải, tác giả Trần Khánh Đức: “Hệ thống GD hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI”; tác giả Đặng Quốc Bảo: “Những vấn đề cơ bản về QLGD” đã trình bày những, quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển GD và hệ thống GD, làm rõ tư tưởng QL. Từ sau khi có Nghị quyết 2 khéa VIII va Nghị quyết 6 khóa IX của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác nghiên cứu về phát triển GD và QLGD được đặc biệt quan tâm và đã đạt được những thành tựu to lớn Có nhiều tác giả như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Tắn Phát, Nguyễn Minh Đức bàn về án đề xây dựng đội ngũ CBQLGD nói chung và CBQL trường THPT nói riêng. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD giai đoạn 2005-2010” và “Chiến lược phát triển GD 2011- 2020” phần nào đã giúp ngành GD có thêm cơ sở lý luận về QLGD va phát triển đội ngũ CBQLGD trong thời kỳ đôi mới của đất nước. Ngoài ra, đã có một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL tại các trường tiểu học, THCS và THPT ở một số địa phương.

Các luận văn này trong một chừng mực. nhất định đã tập trung làm rõ một số nội dung xây dựng, phát triển và bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường học nói chung, mang tính đặc thù của từng cấp học, từng địa phương. Xét trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, cho đến nay, vẫn chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ CBQL trường THPT một cách đầy đủ và hệ thống. Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất Biện pháp phát triễn đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT tỉnh Quăng Nam trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết 1.

CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động phổ , diễn ra trong mọi lĩnh vực, liên quan đến mọi người và có vai trò đặt biệt quan trọng trong mọi hoạt động của xã hội. Đã có rất nhiều tác giả đưa ra các khái niệm khác nhau về QL, sau đây là những khái niệm được sử dụng nhiều trong các tài liệu trong và ngoài nước hiện nay. Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý một tổ chức là nhằm đạt đến sự ồn định và phát triển bền vững các quá trình xã hội, quá trình tồn tại của tô chức đó” [5, tr.

Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thé QL (người QL) đến khách thé QL (người được QL) trong một tô chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [25, tr. Có thé hiểu, QL là một khái niệm bao gồm các thành tố: chủ thé QL, khách thể QL và mục tiêu QL. Tuy nhiên bản chất của quá trình QL là quá trình tác động của chủ thẻ QL thông qua các hoạt động chuyên biệt. Vì thế quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.

Nó mang tính khoa học vì các hoạt động QL có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những quy luật, những quy tắc và phương pháp hoạt động cụ thể, ông thời cũng mang tính nghệ thuật vì nó cần được vận dụng một cách sáng tạo vào những điều kiện cụ thể, đối tượng cụ thê, trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác. nhau trong đời sống xã hội. Tóm lại, khái niệm quản lý có thể được hiểu như sau: Quản lý là quá trình tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL (người QL) lên khách thể QL (người bị QL) về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu QL.

Có thể khái quát khái niệm quản lý bằng sơ đồ sau: Hình 1.1: Khái niệm quản lý Quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản, đó là: - Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là quá trình vạch ra các mục tiêu và quyết định cách thức, giải pháp thực hiện để đạt được các mục tiêu. Đây là vấn đề quan trọng trong các chức năng QL, bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động của tổ chức, đơn vị trong tương lai. Chức năng kế hoạch hóa có 3 nội dung chủ yếu: xác định, hình thành mục tiêu, mục đích và phương hướng đối với tổ chức; xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ 10 chức để đạt được các mục tiêu đã đề ra; quyết định xem những hoạt động nào. là cần thiết đề đạt được các mục tiêu đó.

- Tổ chức: Tô chức là quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đề ra. Vì vậy, khi người QL đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành hiện thực. Nếu có được một tổ chức lành mạnh, sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa này. Xét về mặt chức năng QL, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, đơn vị nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu của tô chức đề ra.

Nhờ có tổ chức, người QL có thê điều phối tốt hơn các nguồn lực, huy động mọi thành viên cộng tác với nhau một cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thành tựu và kết quả hoạt động của một tổ chức phụ thuộc nhiều vào năng lực của người QL trong việc sử dụng các nguồn lực. ~ Lãnh đạo: Lãnh đạo, chỉ đạo là quá trình tác động gây ảnh hưởng đến các thành viên trong tô chức, làm cho họ thực hiện mọi công việc đều hướng. đến mục tiêu chung của hức đã đề ra.

Các chức nang QL sẽ khó hoàn thành một cách tốt đẹp nếu nhà QL không hiểu được yếu tố con người trong các hoạt động của họ cũng như không biết cách LÐ con người để đạt được kết quả mong muốn. Như vậy, chức năng LĐ được xác định là sự tác động đến con người, làm cho con người sẵn sàng và tự nguyện hoàn thành những mục tiêu của tổ chức đề ra. ~ Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng cơ bản, quan trọng của quá trình QL, là một quá trình thiết lập các cơ chế thích hợp để đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức. Kiểm tra là hoạt động của chủ thể QL tác động đến khách thể QL.

Thông qua đó, một cá nhân hoặc một nhóm người có thể theo. đối, giám sát đánh giá kết quả các hoạt động của tô chức. Theo lí thuyết hệ 11 thống, kiểm tra là quá trình thiết lập mối liên hệ ngược trong QL. Vì vậy, có thể nói không có kiểm tra thì không có QL.

Quản lý giáo dục Theo tac gia Trần Kiểm, “Khái niệm QLGD có nhỉ: ấp độ. Ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô” [22, tr. - Đối với cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tắt cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở GD của nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD&DT thé hé trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ