CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE PHAT TRIEN DOI NGU CÁN BO QUAN LY TRUONG TRUNG HQC PHO THONG 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CUU VAN DE. Ở bắt kỳ giai đoạn phát triển nào của lịch sử GD, việc xây dựng đội ngũ CBQLGD là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng GD, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Các tư tưởng QL sơ khai đều xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy.
Lạp và cô Trung Hoa. Sự đóng góp của các nhà triết học cỗ Hy Lạp về QL tuy còn ít ỏi nhưng đáng ghỉ nhận: Điển hình là tư tưởng của Xô-crát (469- 399 Tr.N), Pla-tôn (427-347 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr. Thời Trung Hoa cổ đại đã công nhận các chức năng QL, đó là các chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức, tác động, kiểm tra. Đặc biệt, các nhà tư tưởng và chính trị lớn là Không Tử (551-478 Tr.CN), Mạnh Tử (372-289 Tr.CN), Thương Ưởng (390- 338 Tr.CN) đã nêu lên tư tưởng QL “Đức trị, Lễ trị” lấy chữ Tín làm đầu.
Những tư tưởng QL trên vẫn có ảnh hưởng khá sâu sắc đến các nước phương Đông ngày nay. Giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là giai đoạn mang tư tưởng. QL chủ nghĩa tư bản. Khoa học QL từng bước tách ra khỏi triết học và trở thành bộ môn khoa học độc lập, có sự tham gia đóng góp của nhiều trường phái: Thuyết quản lý khoa học; Thuyết hành chính; Trường phái tác phong (trường phái quan hệ giữa con người với con người trong QL); Thuyết tô chức trong quản lý; Thuyết hành vi.
Trong Bộ Tư bản, Mác đã coi vai trò của nhà QL giống như vai trò của nhạc trưởng trong dàn nhạc.Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [8, tr. 480] Ở Việt Nam, Khoa học quản lý tuy còn non trẻ, song nó đã có những. thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả QL xã hội trong những điều kiện cụ thể, tương ứng với tình hình phát triển KT-XH của đất nước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, đề ra được những giải pháp QL trong lĩnh vực QL và phát triển GD&ĐT Việt Nam.
Có thể kể đến một số tác giả và công trình nghiên cứu như: tác giả Nguyễn Ngọc Quang với nghiên cứu “Những khái niệm cơ bản về lý luận QLGD” đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của QL, QLGD, các đối tượng của khoa học QLGD; tác giả Đăng Bá Lãm, tác giả Phạm Thành Nghị với “Chính sách và kế hoạch phát triển trong QLGD” đã phân tích khá sâu sắc về lý thuyết và mô hình chính sách, các phương pháp lập kế hoạch GD; tác giả Vũ Ngọc Hải, tác giả Trần Khánh Đức: “Hệ thống GD hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI”; tác giả Đặng Quốc Bảo: “Những vấn đề cơ bản về QLGD” đã trình bày những, quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển GD và hệ thống GD, làm rõ tư tưởng QL. Từ sau khi có Nghị quyết 2 khéa VIII va Nghị quyết 6 khóa IX của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác nghiên cứu về phát triển GD và QLGD được đặc biệt quan tâm và đã đạt được những thành tựu to lớn Có nhiều tác giả như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Tắn Phát, Nguyễn Minh Đức bàn về án đề xây dựng đội ngũ CBQLGD nói chung và CBQL trường THPT nói riêng. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD giai đoạn 2005-2010” và “Chiến lược phát triển GD 2011- 2020” phần nào đã giúp ngành GD có thêm cơ sở lý luận về QLGD va phát triển đội ngũ CBQLGD trong thời kỳ đôi mới của đất nước. Ngoài ra, đã có một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL tại các trường tiểu học, THCS và THPT ở một số địa phương.
Các luận văn này trong một chừng mực. nhất định đã tập trung làm rõ một số nội dung xây dựng, phát triển và bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường học nói chung, mang tính đặc thù của từng cấp học, từng địa phương. Xét trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, cho đến nay, vẫn chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ CBQL trường THPT một cách đầy đủ và hệ thống. Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất Biện pháp phát triễn đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT tỉnh Quăng Nam trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết 1.
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động phổ , diễn ra trong mọi lĩnh vực, liên quan đến mọi người và có vai trò đặt biệt quan trọng trong mọi hoạt động của xã hội. Đã có rất nhiều tác giả đưa ra các khái niệm khác nhau về QL, sau đây là những khái niệm được sử dụng nhiều trong các tài liệu trong và ngoài nước hiện nay. Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý một tổ chức là nhằm đạt đến sự ồn định và phát triển bền vững các quá trình xã hội, quá trình tồn tại của tô chức đó” [5, tr.
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thé QL (người QL) đến khách thé QL (người được QL) trong một tô chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [25, tr. Có thé hiểu, QL là một khái niệm bao gồm các thành tố: chủ thé QL, khách thể QL và mục tiêu QL. Tuy nhiên bản chất của quá trình QL là quá trình tác động của chủ thẻ QL thông qua các hoạt động chuyên biệt. Vì thế quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
Nó mang tính khoa học vì các hoạt động QL có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những quy luật, những quy tắc và phương pháp hoạt động cụ thể, ông thời cũng mang tính nghệ thuật vì nó cần được vận dụng một cách sáng tạo vào những điều kiện cụ thể, đối tượng cụ thê, trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác. nhau trong đời sống xã hội. Tóm lại, khái niệm quản lý có thể được hiểu như sau: Quản lý là quá trình tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL (người QL) lên khách thể QL (người bị QL) về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu QL.
Có thể khái quát khái niệm quản lý bằng sơ đồ sau: Hình 1.1: Khái niệm quản lý Quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản, đó là: - Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là quá trình vạch ra các mục tiêu và quyết định cách thức, giải pháp thực hiện để đạt được các mục tiêu. Đây là vấn đề quan trọng trong các chức năng QL, bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động của tổ chức, đơn vị trong tương lai. Chức năng kế hoạch hóa có 3 nội dung chủ yếu: xác định, hình thành mục tiêu, mục đích và phương hướng đối với tổ chức; xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ 10 chức để đạt được các mục tiêu đã đề ra; quyết định xem những hoạt động nào. là cần thiết đề đạt được các mục tiêu đó.
- Tổ chức: Tô chức là quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đề ra. Vì vậy, khi người QL đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành hiện thực. Nếu có được một tổ chức lành mạnh, sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa này. Xét về mặt chức năng QL, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, đơn vị nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu của tô chức đề ra.
Nhờ có tổ chức, người QL có thê điều phối tốt hơn các nguồn lực, huy động mọi thành viên cộng tác với nhau một cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thành tựu và kết quả hoạt động của một tổ chức phụ thuộc nhiều vào năng lực của người QL trong việc sử dụng các nguồn lực. ~ Lãnh đạo: Lãnh đạo, chỉ đạo là quá trình tác động gây ảnh hưởng đến các thành viên trong tô chức, làm cho họ thực hiện mọi công việc đều hướng. đến mục tiêu chung của hức đã đề ra.
Các chức nang QL sẽ khó hoàn thành một cách tốt đẹp nếu nhà QL không hiểu được yếu tố con người trong các hoạt động của họ cũng như không biết cách LÐ con người để đạt được kết quả mong muốn. Như vậy, chức năng LĐ được xác định là sự tác động đến con người, làm cho con người sẵn sàng và tự nguyện hoàn thành những mục tiêu của tổ chức đề ra. ~ Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng cơ bản, quan trọng của quá trình QL, là một quá trình thiết lập các cơ chế thích hợp để đảm bảo đạt được các mục tiêu của tổ chức. Kiểm tra là hoạt động của chủ thể QL tác động đến khách thể QL.
Thông qua đó, một cá nhân hoặc một nhóm người có thể theo. đối, giám sát đánh giá kết quả các hoạt động của tô chức. Theo lí thuyết hệ 11 thống, kiểm tra là quá trình thiết lập mối liên hệ ngược trong QL. Vì vậy, có thể nói không có kiểm tra thì không có QL.
Quản lý giáo dục Theo tac gia Trần Kiểm, “Khái niệm QLGD có nhỉ: ấp độ. Ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô” [22, tr. - Đối với cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tắt cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở GD của nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD&DT thé hé trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD.