MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Một trong những thủ phạm của biến đổi khí hậu là các công trình xây dựng ngày càng nhiều và các công trình này chiếm khoảng 40% năng lượng được tiêu thụ trên toàn cầu hiện nay. Trong đó, cao ốc văn phòng là những cỗ máy khổng lồ tiêu tốn nhiều năng lượng. Cũng theo dự báo, năm 2030 hơn 60% dân số thế giới sẽ sống trong đô thị và chính sự tăng trưởng này sẽ gây áp lực rất lớn lên hạ tầng, nhất là vấn đề cấp nước và rác thải. Để giảm áp lực hạ tầng, giảm khí thải CO2 gây hiệu ứng nhà kính… nâng cao chất lượng sống của con người, tạo môi trường bền vững, trong lành thì việc hoạch đô thị theo xu hướng xanh, đặc biệt là các cao ốc xanh, các công trình xanh đang trở nên quan trọng của các quốc gia trên thế giới.
Phát triển các công trình xanh là một cách hiệu quả để thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Có thể nói, các công trình xanh không chỉ là sự lựa chọn cấp thiết mà còn là cứu cánh hữu hiệu trong thời buổi khủng hoảng năng lượng hiện nay. Ngoài việc sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm, các công trình xanh còn góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên, thân thiện với môi trường, chi phí sử dụng thấp, đảm bảo sức khỏe người sử dụng, tuổi thọ công trình cao. Tại Việt Nam, công trình xanh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc qui hoạch và phát triển đô thị ở tầm vĩ mô.
Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế để về cơ bản đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp. Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh chóng như hiện nay thì đến năm 2020 dân số đô thị chiếm khoảng 45%. Như vậy, vấn đề đặt ra cho ngành công nghiệp xây dựng là cần phát triển các công trình xanh để thay đổi mô hình kiến trúc hiện tại đang tiêu thụ nhiều năng lượng và gây ô nhiễm môi trường. Như vậy bên cạnh các yêu cầu về một công trình xây dựng bền, đẹp thì còn có một yêu cầu cũng không kém phần quan trọng là sử dụng năng luợng tiết kiệm, bảo vệ môi truờng.
Tiết kiệm năng luợng, an toàn cho con nguời, cho môi truờng trong 2 quá trình thi công, sử dụng năng luợng hiệu quả trong khi vận hành. Chính vì những yêu cầu trên mà công tác giám sát chất luợng thi công đuợc coi là một trong những yều tố then chốt quyết định sự thành công của dự án. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đề tài được triển khai với mục đích tổng kết những nguyên tắc, yêu cầu , lưu ý trong công tác giám sát chất lượng phần cơ điện các dự án "xanh" theo "Bộ công cụ đánh giá LOTUS". Nội dung cơ bản có thể được diễn đạt bằng sơ đồ sau: CON NGUỜI PHUƠNG CÔNG PHÁP NGHỆ GSCL XD VẬT AN LIỆU TOÀN THIẾT BỊ Hình 0.
Mục đích giám sát chất lượng thi công 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Để một dự án đạt đuợc chứng chỉ "xanh" của hội đồng công trình xanh Việt Nam (VGBC ) thực tế phải làm rất nhiều việc. Từ khâu hình thành ý tuởng về việc xây dựng dự án theo tiêu chuẩn công trình "xanh". Tiếp đó phải triển khai thiết kế theo các yêu cầu nghiêm ngặt của tiêu chuẩn "xanh" cho tất cả các phần liên quan bao gồm : phần kết cấu, phần kiến trúc , phần cơ điện và phần cảnh quan.
Tiếp đến đăng ký và bảo vệ thiết kế với hội đồng công trình "xanh" Việt Nam. Sau khi đã đuợc chấp nhận thiết kế thì mới triển khai thi công. Yêu cầu của phần thi công đầu tiên và quan trọng nhất là tuân thủ nghiêm nghặt các yêu cầu và huớng dẫn của thiết kế cho tất cả các hạng mục đã nêu trên. Tuy nhiên với một quy trình nhiều buớc và 3 nhiều nội dụng như vậy thì một luận văn thạc sĩ không thể giải quyết hết.
Hơn nữa chuyên môn của tác giả cũng chưa cho phép để có thể tiếp cận sâu và giải quyết tất cả mọi vấn đề nêu trên. Chính vì những lý do như vậy nên tác giả chọn đề tài : Nghiên cứu công tác giám sát chất luợng thi công phần cơ điện trong công trình xây dựng tòa nhà xanh một liên hợp quốc-304 Kim Mã. Đề tài này phù hợp với chuyên môn sâu của tác giả (tư vấn giám sát phần cơ điện công trình xây dựng). Bên cạnh đó công tác giám sát chất luợng thi công cũng góp một buớc quan trọng để một công trình đạt đuợc yêu cầu "xanh".
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Với đề tài này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng kết kinh nghiệm. Kết quả dự kiến đạt đuợc Trên cơ sở nhận biết về tầm quan trọng của việc xây dựng , triển khai xây dựng các công trình theo tiêu chuẩn xanh. Luận văn phân tích các quy định, tiêu chuẩn về công trình xanh trên thế giới và trong nuớc. Phân tích thực trạng triển khai các công trình xanh trên thế giới và trong nuớc.
Đi sâu vào tìm hiểu và phân tích bộ công cụ đánh giá LOTUS. Áp dụng cho giám sát thi công phần cơ điện công trình "TOÀ NHÀ XANH MỘT LIÊN HỢP QUỐC304 KIM MÃ". Qua đó đúc kết đuợc quy trình giám sát chất luợng các dự án "xanh". Rút ra đuợc những lưu ý quan trọng để có thể áp dụng cho các dự án "xanh" sau này.
Nội dung của luạn văn gồm 4 chương như sau : 4 CHƯƠNG1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH 1.1 Quan niệm về chất lượng sản phẩm[24] Khái niệm về chất lượng sản phẩm nói chung đã xuất hiện từ lâu, ngày nay được sử dụng khá phổ biến và rất thông dụng hàng ngày trong cuộc sống cũng như trong sách báo. Bất cứ ở đâu hay trong tài liệu nào chúng ta đều thấy xuất hiện thuật ngữ chất lượng.Tuy nhiên, hiểu như thế nào là chất lượng sản phẩm lại là vấn đề không đơn giản.Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế xã hội. Do tính phức tạp đó nên hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Mỗi khái niệm đều có những cơ sở khoa học và nhằm giải quyết những mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế.
Đứng trên góc độ khác nhau và tuỳ theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ người sản xuất, người tiêu dùng, từ sản phẩm hay từ đòi hỏi của thị trường. Khái niệm chất lượng cần phải hiểu đúng. Chỉ có thể tiến hành có hiệu quả công tác quản lý chất lượng khi có quan niệm đúng đắn và chính xác về chất lượng. Quan niệm siêu việt cho rằng “chất lượng là sự tuyệt vời, hoàn hảo tuyệt đối của sản phẩm làm cho con người cảm nhận được”.
Quan niệm chất lượng theo sản phẩm: “Chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm. Chất lượng là cái cụ thể và có thể đo lường được thông qua các đặc tính đó”. Theo khuynh hướng quản lý sản xuất: “Chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, yêu cầu kinh tế kỹ thuật đã được đặt ra, đã được thiết kế trước”.Edwards Deming định nghĩa: “Chất lượng là một trình độ dự kiến được trước về độ đồng đều và độ tin cậy, với chi phí thấp và phù hợp thị trường”.Crosby định nghĩa: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”. Juran đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu sử dụng và mục đích”.
Feigenbaun định nghĩa: “Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp và phức hợp của sản phẩm và dịch vụ về các mặt marketing, kỹ thuật, chế tạo và bảo dưỡng mà thông qua đó khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm đáp ứng được điều mong đợi của khách hàng”. Khuynh hướng tạo ra lợi thế cạnh tranh cho rằng: “Chất lượng là những đặc tính của sản phẩm và dịch vụ mang lại lợi thế cạnh tranh nhằm phân biệt nó với sản phẩm cùng loại trên thị trường”. Định nghĩa chất lượng của tổ chức ISO: Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp được thống nhất, dễ dàng, tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hàng hoá (ISOInternatinal Organization Standardisation) trong bộ tiêu chuẩn ISO 8402:1994 đã đưa ra định nghĩa chất lượng: ''Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu cụ thể hoặc tiềm ẩn”. Quan niệm về chất lượng toàn diện ”Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu và là vấn đề tổng hợp”.
Sản phẩm muốn đáp ứng được các yêu cầu sử dụng thì phải có các đặc tính về công dụng phù hợp. Để tạo ra được tính chất đó cần có những giải pháp kỹ thuật thích hợp. Nhưng chất lượng còn là vấn đề kinh tế. Sự thoả mãn của khách hàng không phải chỉ bằng những tính chất công dụng mà còn bằng chi phí bỏ ra để có được sản phẩm đó và sử dụng nó.
Bên cạnh đó, chất lượng trong thực tế còn được thể hiện ở khía cạnh thời điểm được đáp ứng yêu cầu. Giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn là một yếu tố vô cùng quan trọng trong thoả mãn nhu cầu hiện nay. Trong những năm gần đây, sự thoả mãn của khách hàng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như các dịch vụ đi kèm và đặc biệt là tính an toàn đối với người sử dụng. Từ những năm 1990 trở lại đây, người ta còn hết sức chú trọng “độ tin cậy” của sản phẩm.
Từ đó có thể hình thành khái niệm chất lượng tổng hợp: Chất lượng chính là sự thoả mãn yêu cầu trên tất cả các phương diện sau: 6 - Đặc tính kỹ thuật của sản phẩm và dịch vụ đi kèm; - Giá cả phù hợp; - Thời hạn giao hàng; - Tính an toàn và độ tin cậy.2 Quan niệm về chất lượng công trình Khái niệm chất lượng công trình là sự cụ thể hóa , chuyên biệt hóa các cấu thành của chất lượng sản phẩm. Qua đó có thể định nghĩa chất lượng công trình dựa trên khái niệm về chất lượng tổng hợp .