phần Mở đầu, Tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của tinh giản biên chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện thực hiện tinh giản biên chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Quan điểm, phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện hoạt động tinh giản biên chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 10 e CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA TINH GIẢN BIÊN CHẾ Ở CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Một số khái niệm 1. Biên chế Biên chế là một thuật ngữ đƣợc sử dụng khá phổ biến trong khu vực công. Tuy nhiên cũng có nhiều cách hiểu chƣa thống nhất về thuật ngữ này.
Theo cách hiểu đơn giản biên chế là số ngƣời làm việc thƣờng xuyên, liên tục, ổn định trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị, do cấp có thẩm quyền quyết định, đƣợc hƣởng lƣơng, chính sách, chế độ theo quy định của Nhà nƣớc. Có quan niệm cho rằng: “Biên chế trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc là số ngƣời làm việc trong cơ quan để thực hiện chức năng nhiệm vụ đƣợc giao và đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền (hiện nay là Bộ Nội vụ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh Thành phố trực thuộc Trung ƣơng) phê duyệt và giao, làm căn cứ cấp kinh phí hoạt động thƣờng xuyên hằng năm” và theo đó Nhà nƣớc sẽ định ra chỉ tiêu số lƣợng con ngƣời (công chức, viên chức) trong một đơn vị hành chính (cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công) tạo nên một tổng biên chế cho nền hành chính quốc gia [50]. Theo quan niệm này tác giả cho rằng biên chế chỉ những ngƣời làm việc trong các cơ quan, tổ chức để thực hiện chức năng nhiệm vụ đƣợc giao, nhƣ vậy ở đây biên chế đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn không bao gồm lao động hợp đồng trong các cơ quan tổ chức nhà nƣớc. Nhìn nhận ở phạm vi rộng hơn về biên chế, cho rằng biên chế không chỉ là những ngƣời cán bộ, công chức, viên chức mà còn bao gồm cả lao động hợp đồng trong các cơ quan đơn vị, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan nhấn mạnh “Biên chế là số lƣợng cán bộ, công chức, số lƣợng ngƣời làm trong đơn vị và lao động hợp đồng đƣợc cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật” [36].
Thuật ngữ "biên chế" cũng đƣợc giải thích trong văn bản pháp luật Việt Nam. Theo Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 11 e năm 2014 của Chính phủ quy định “Về chính sách tinh giản biên chế” quy định: “Biên chế” sử dụng trong Nghị định này đƣợc hiểu gồm: biên chế cán bộ, biên chế công chức, số lƣợng ngƣời làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động hợp đồng đƣợc cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật” [8]. Các quan niệm trên đều hƣớng tới một cách hiểu chung rằng biên chế là số nhân lực làm việc, lao động trong các cơ quan nhà nƣớc, các đơn vị, tổ chức của hệ thống chính trị, bao gồm cả lao động hợp đồng, đƣợc cấp có thẩm quyền giao và thuộc biên chế đi liền với hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Nhƣ vậy, xét một cách chung nhất, biên chế là số người làm việc lâu dài, không xác định thời hạn trong cơ quan của Nhà nước, hưởng các chế độ về lương, phụ cấp được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.
Tinh giản biên chế Bản chất của biên chế chính là số lƣợng ngƣời làm việc chính thức, lâu dài, ổn định thƣờng xuyên gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lƣợng công việc trong một tổ chức. Số lƣợng biên chế do cấp có thẩm quyền quản lý quyết định điều chỉnh, tăng hoặc giảm trong từng giai đoạn, từng thời kỳ nhất định. Trƣớc đây, việc điều chỉnh, tăng hoặc giảm biên chế chỉ căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ, khối lƣợng công việc, mức độ phức tạp của nhiệm vụ, phạm vi quản lý và thƣờng là theo đề nghị của các cấp, các đơn vị. Đến nay, theo Luật Cán bộ, Công chức 2008 đã bổ sung thêm một nguyên tắc quan trọng vào các nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức, viên chức, đó là: việc quản lý cán bộ, công chức, viên chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm.
Vị trí việc làm là điểm cơ bản, mấu chốt để đổi mới cơ chế quản lý biên chế, quản lý công chức. Theo quy định của pháp luật về công chức phải căn cứ vào vị trí việc làm để xem xét, quyết định số biên chế trong từng cơ quan, đơn vị, tổ chức. Thông thƣờng tinh giản biên chế đƣợc hiểu là cắt giảm bớt số lƣợng ngƣời làm việc đƣợc trả công, lƣơng bằng ngân sách nhà nƣớc và sắp xếp lại thật hợp lý, khoa học. Có cách hiểu cho rằng “Tinh giản biên chế đƣợc hiểu là việc áp dụng các giải pháp phân loại, sàng lọc loại ra khỏi bộ máy những biên chế không cần 12 e thiết, làm cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lƣợng hơn, tinh thông hơn” [38].
Theo quan niệm này tác giả đi sâu vào xem xét khía cạnh mục tiêu của tinh giản biên chế, cho rằng việc tinh giản biên chế không chỉ giảm theo số lƣợng mà còn phải đảm bảo chất lƣợng và hiệu quả. Cách hiểu này tƣơng tự nhƣ khái niệm về tinh giản biên chế quy định tại Điều 3 Nghị định số 108/2014/NĐ- CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 “ Tinh giản biên chế được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế” [8] và đây cũng là cách tiếp cận trong phạm vi Luận văn này. Nhƣ vây, tinh giản biên chế là cách thức đánh giá, phân loại để các cơ quan nhà nƣớc tinh lọc lại nhân sự nhằm làm cho các hoạt động có hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của ngƣời dân, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thu hút những ngƣời có đức có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập từ đó góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nƣớc, tiết kiệm ngân sách, giảm chi thƣờng xuyên, cải cách tiền lƣơng. Tinh giản biên chế là sàng lọc ra khỏi bộ máy nhà nƣớc những biên chế không cần thiết, không đáp ứng yêu cầu của vị trí công việc, làm cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có chất lƣợng hơn, tinh thông nghiệp vụ hơn.
Tinh giản là rà soát lại vị trí của từng cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nƣớc, xem xét sự phù hợp về năng lực của họ với vị trí, chức năng, nhiệm vụ họ đang đảm nhận Tinh giản biên chế thực chất là giải pháp quan trọng khắc phục tình trạng đông nhƣng không mạnh nhƣ thực tế hiện nay trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở nƣớc ta. Thực chất của tinh giản biên chế, tối ƣu hóa là nghiên cứu, khảo sát, cải cách, sắp xếp, điều chỉnh, chuẩn hóa biên chế tổ chức và hoạt động của bộ máy công vụ; bảo đảm tính hợp lý của chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu biên chế, tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, làm cho bộ máy đƣợc tổ chức và hoạt động tối ƣu, có chất lƣợng, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất yêu cầu, 13 e nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị và trong tổng thể hệ thống công vụ từ trung ƣơng đến địa phƣơng, cơ sở [33]. Xem xét từ góc độ các quan niệm về tinh giản biên chế có thể thấy tinh giản biên chế có một số đặc điểm nhƣ sau: Thứ nhất, về mục tiêu: Tinh giản biên chế không phải là sự cắt giảm một cách cơ học thuần túy cán bộ, công chức, viên chức ở một vị trí, một bộ phận chuyên môn nào đó mà là tinh giản bộ máy, biên chế sao cho gọn nhẹ, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức viên chức. Vấn đề tinh giản biên chế phải gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng đƣợc cơ cấu cán bộ, công chức hợp lý về số lƣợng, ngạch, chức danh nghề nghiệp; trình độ, độ tuổi, dân tộc, giới tính, nhất là tƣơng quan với chức năng của tổ chức.
Thứ hai, về quy mô thực hiện: Tinh giản biên chế là việc có ảnh hƣởng sâu rộng trong toàn bộ các cơ quan, đơn vị, có sự tham gia của cả hệ thống chính trị vào quá trình thực hiện. tinh giản biên chế phải làm từng bƣớc, có lộ trình rõ ràng, kế hoạch thực hiện cụ thể. Thứ ba, hoạt động tinh giản biên chế là một vấn đề nhạy cảm. Liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích và cuộc sống của cá nhân cán bộ, công chức, viên chức nên khi thực hiện tinh giản biên chế xuất hiện tình trạng nể nang, ngại va chạm, thiếu quyết đoán và chƣa quyết liệt.
Các cơ quan đơn vị chậm triển khai thực hiện tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức, viên chức do không muốn dẫn đến tình trạng mất ổn định, mất lòng trong tổ chức, kết quả là không đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Thứ tư, tinh giản biên chế do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền thực hiện và luôn gắn liền với công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. Cơ sở của tinh giản là việc đánh giá, đánh giá là công cụ tạo động lực để nâng cao hiệu quả làm việc, đồng thời là công cụ sàng lọc, phân loại những cán bộ, công chức, viên chức không còn phù hợp, không đáp ứng đƣợc yêu cầu công việc. Xây dựng những thang đo, tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số có khả năng lƣợng hóa về kết quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức; lấy đó làm cơ sở xác định đối tƣợng cần tinh giản một cách khoa học, chính xác và có tính thuyết phục.
14 e Thứ năm, tinh giản biên chế sử dụng nguồn lực công để tiến hành. Nguồn kinh phí để thực hiện tinh giản biên chế là nguồn ngân sách nhà nƣớc.