Chương 1: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh Chương 2: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Tây Ninh Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng và phát triển đô thị Tây Ninh đến năm 2020 Phần kết luận Tài liệu tham khảo Các phụ lục 123doc 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Một số khái niệm 1. Cạnh tranh Trong bất kỳ lĩnh vực nào, bất kỳ ngành nghề nào cũng có sự cạnh tranh. Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có chung một môi trường sống khi cùng quan tâm tới một đối tượng nào đó.
Trong hoạt động kinh tế, khái niệm cạnh tranh xuất hiện từ rất lâu, từ khi nền kinh tế hàng hóa xuất hiện thì đã có cạnh tranh. Rất nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu về cạnh tranh và cũng có nhiều khái niệm khác nhau. Khái quát lại, cạnh tranh là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Từ điển Kinh tế định nghĩa: “Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành lấy nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất” (Nguyễn Đức Dụy, 2000).
Quan điểm này là xem xét hoạt động cạnh tranh ở mức độ doanh nghiệp, theo đó mục đích của cạnh tranh là tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ để từ đó không dẫn đến việc cạnh tranh không lành mạnh, dùng những thủ đoạn xảo quyệt nhằm tạo cho mình một vị thế độc tôn trên thị trường, để khách hàng không có thể có sự lựa chọn nào khác. Bản chất của cạnh tranh chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là sự sống còn của doanh nghiệp, cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu về các sản phẩm dịch vụ; hướng việc sử dụng các yếu tố 123doc 5 kinh doanh vào những nơi hiệu quả nhất. Cạnh tranh còn là động lực thúc đẩy đổi mới hoạt động kinh doanh. Cạnh tranh là một tiến trình đổi mới không ngừng, nếu doanh nghiệp nào bằng lòng với vị thế cạnh tranh hiện tại của mình thì chắc chắn sẽ rơi vào tụt hậu. Doanh nghiệp luôn luôn phải gia tăng không ngừng phấn đấu để sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm giảm chi phí hoạt động, hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, dịch vụ, luôn luôn đổi mới, ngày càng tạo ra những giá trị gia tăng thêm cho khách hàng.
Do đó, cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệp nếu không muốn bị đào thải thì phải cần có những giải pháp để tăng cường năng lực cạnh tranh giúp tồn tại và phát triển trên thị trường. Năng lực cạnh tranh Trong cơ chế thị trường, một doanh nghiệp muốn có một chỗ đứng vững chắc, ngày càng mở rộng quy mô hoạt động thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường. Tiềm lực đó chính là năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Theo Michael Porter (1984), ở cấp độ doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tạo ra lợi nhuận cao.
Để luôn giành thắng lợi trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xây dựng cho mình “lợi thế cạnh tranh” bền vững. Michael Porter (1985, trang 33) đã nêu rằng: “Lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí của doanh nghiệp đã phải bỏ ra. Giá trị là mức người mua sẵn lòng thanh toán, và một giá trị cao hơn (superior value) xuất hiện khi doanh nghiệp chào bán các tiện ích tương đương nhưng với mức giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh hoặc cung cấp các tiện ích độc đáo và người mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình thường”. 123doc 6 Trong cạnh tranh, giá trị là mức tiền mà người mua sẵn lòng thanh toán cho những sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp.
Doanh nghiệp sẽ có lời nếu giá trị mà họ điều tiết vượt quá chi phí liên quan đến việc tạo ra sản phẩm. Tạo ra các giá trị cho người mua với chi phí thấp hơn giá trị đó là mục tiêu của mọi chiến lược tổng quát. “Công cụ cơ bản để phán đoán lợi thế cạnh tranh và tìm ra phương cách để củng cố nó chính là chuỗi giá trị (value chain)” (Michael Porter, 1985, trang 63). Cơ sở hạ tầng doanh nghiệp Các hoạt Quản trị nguồn nhân lực động hỗ Phát triển công nghệ trợ Thu mua Lợi nhuận Marketing Logistic Vận Logistic và Dịch vụ đầu vào hành đầu ra bán hàng Hoạt động sơ cấp Nguồn: Tác giả tổng hợp từ lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter Hình 1.1: Mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter Mô hình chuỗi giá trị chỉ ra mối quan hệ giữa các hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động sơ cấp và các hoạt động hỗ trợ, cho thấy cách thức tạo ra giá trị sản phẩm của một doanh nghiệp.
Thông qua mô hình chuỗi giá trị, Porter cho rằng khả năng để thực hiện những hoạt động riêng biệt này và để quản lý kết nối giữa các hoạt động này là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh. Tùy theo từng ngành mà từng loại hoạt động sẽ mang ý nghĩa quyết định đối với lợi thế cạnh tranh. Michael Porter (1985, trang 43) xác định: “Cho dù doanh nghiệp có vô số điểm mạnh và điểm yếu trước các đối thủ khác, tựu trung lại có hai loại lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể sở hữu: chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Điều quan 123doc 7 trọng của bất cứ thế mạnh hay nhược điểm nào của doanh nghiệp cuối cùng vẫn là việc ảnh hưởng từ những ưu/khuyết điểm đó đến chi phí và sự khác biệt hóa có liên quan.” Chiến lược chi phí thấp là chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh bằng cách phát triển những năng lực nhằm sản xuất ra sản phẩm dịch vụ với chi phí thấp để có thể định giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong ngành nhằm thu hút khách hàng với giá thấp và chiếm được thị phần lớn.
Chiến lược này giúp cho doanh nghiệp có hai lợi thế: thứ nhất là có được lợi nhuận bằng hoặc cao hơn đối thủ cạnh tranh, hai là có khả năng chịu đựng được sự cạnh tranh tốt hơn các doanh nghiệp khác. Điều kiện để doanh nghiệp theo đuổi chiến lược chi phí thấp cần có là: thứ nhất, vốn để đầu tư cho những công nghệ giúp cắt giảm chi phí; thứ hai, quá trình hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao và thứ ba là có nền tảng chi phí thấp trong quá trình quản lí đầu vào. Nguồn gốc về lợi thế chi phí thì khác nhau tùy theo từng ngành và phụ thuộc vào cấu trúc của ngành đó. Nhưng, rủi ro lớn nhất khi áp dụng chiến lược này là không phải chỉ có riêng một doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn đầu vào giá rẻ.
Vì thế, các đối thủ khác hoàn toàn có thể sao chép chiến lược chi phí thấp. Chiến lược khác biệt hóa là chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh bằng cách tạo ra sản phẩm được xem là duy nhất, độc đáo đối với khách hàng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng bằng cách thức mà các đối thủ cạnh tranh không thể. Khác biệt hóa cho phép doanh nghiệp yêu cầu mức giá vượt trội, bán nhiều sản phẩm hơn ở mức giá cho trước, hoặc đạt những lợi ích tương đương như là người mua trung thành hơn hay tạo ra rào cản các công ty khác gia nhập vào thị trường. Khác biệt hóa là chiến lược quan trọng bậc nhất trong cạnh tranh.
Một khi không có lợi thế về chi phí để cạnh tranh bằng giá thấp, khác biệt hóa trở thành sự lựa chọn gần như là duy nhất để doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong một thị trường nhiều đối thủ. Khác biệt có thể dựa trên chính sản phẩm, hệ thống phân phối, phương pháp marketing hoặc là các yếu tố khác trên diện rộng. Tuy nhiên, chi phí cũng là vấn đề quan trọng có tính sống còn trong các chiến lược khác biệt hóa bởi vì những đơn vị thực hiện 123doc 8 khác biệt hóa thường đòi hỏi phải duy trì chi phí ở mức cao so với đối thủ cạnh tranh. Tóm lại, ưu thế của chiến lược khác biệt hóa là tính độc đáo, duy nhất của sản phẩm.
Chính yếu tố đó cho phép sản phẩm được định giá vượt trội. Tuy vậy, vấn đề là làm sao duy trì được ưu thế này và chú ý đến mức giá mà thị trường có thể chấp nhận được. Định giá đúng có vai trò hết sức quan trọng, có khả năng quyết định sự tồn vong hay phát triển của công ty. Từ những khái niệm nêu trên, có thể thấy rằng, việc đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể dựa trên nhiều tiêu chí như thị phần, doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, phương pháp quản lý, uy tín doanh nghiệp, tài sản doanh nghiệp, tỷ lệ lao động lành nghề, tỷ lệ đội ngũ quản lý giỏi, … Những yếu tố đó tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tức là tạo cho doanh nghiệp khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị cho khách hàng dựa trên sự khác biệt hóa trong các yếu tố của chất lượng hoặc chi phí thấp, hoặc cả hai.
Để biết năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như thế nào, cần phải dựa vào một hệ thống các tiêu chí. Hệ thống các tiêu chí này chủ yếu dựa trên cơ sở các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố nội tại của doanh nghiệp và các yếu tố thuộc về môi trường kinh doanh bên ngoài.