Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TRONG TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CÁC DNNN 1. Khái niệm DNNN và cổ phần hóa DNNN 1. Khái niệm DNNN Theo Luật DNNN của Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành ngày 26/11/2003 thì “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Luật DNNN có giải thích rõ hơn về các khái niệm công ty nhà nước, cụ thể như sau: − Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật này.
Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước. − Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước ủy quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp. − Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp. − Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Nhà nước ủy quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp.
Có thể thấy rằng, Luật DNNN mới (năm 2003) đã mở rộng thêm khái niệm về DNNN và có sự thay đổi cơ bản về quan niệm tổ chức DNNN so với các Luật DNNN trước đây. Trước đây, DNNN chỉ có duy nhất một hình thức tổ chức và hoạt động, đó là: do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức và hoạt động theo Luật DNNN. Nay, theo Luật DNNN mới thì DNNN có thể được tổ chức và hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau, đó là: do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức và hoạt động theo Luật DNNN hoặc theo Luật doanh nghiệp tùy theo hình thức tổ chức là công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước hay công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước. Cổ phần hóa DNNN Cổ phần hóa DNNN có nghĩa là chuyển đổi hình thức tổ chức hoạt động của DNNN hiện tại sang hình thức tổ chức hoạt động của công ty cổ phần.
Việc chuyển đổi này làm thay đổi về cơ bản hình thức sở hữu và hình thức tổ chức hoạt động trong DNNN. Tùy mục tiêu quản lý đối với từng ngành hay từng doanh nghiệp, Nhà nước sẽ quy định cụ thể về tỷ lệ vốn góp cổ phần tối thiểu và tối đa trong DNNN sau khi cổ phần hóa cho từng đối tượng góp vốn (Nhà nước, cá nhân doanh nghiệp trong nước, cá nhân doanh nghiệp nước ngoài). Trên thế giới, cổ phần hóa đã diễn ra từ lâu và ở nhiều nền kinh tế khác nhau. Chỉ trong vòng hai năm 2004–2005, hơn 60 nước đã thực hiện gần 400 trường hợp cổ phần hóa với tổng giá trị khoảng 90 tỷ Đôla Mỹ.
Hai nền kinh tế mới nổi là Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ đóng góp hơn 1/3 các hoạt động này với tổng giá trị tương ứng vào khoảng 18 tỷ Đôla Mỹ và 12,6 tỷ Đôla Mỹ. Ấn Độ và Pakistan cũng đạt được giá trị cổ phần hóa vào khoảng 8 tỷ Đôla Mỹ. Tại các nước OECD và một số nền kinh tế thị trường tại Mỹ Latinh, hoạt động cổ phần hóa đang chậm lại bởi vì nhiều nước đã hoàn thành việc cổ phần hóa từ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 trong 2 thập kỷ qua. Có rất nhiều lý do để giải thích tại sao các Chính phủ lại theo đuổi chủ trương cổ phần hóa và trong hầu hết các trường hợp nguyên nhân chính thúc đẩy chủ trương cổ phần hóa đó là sự thay đổi trong triết lý kinh tế của Chính phủ nghiêng hơn về phía nền kinh tế thị trường.
Lấy trường hợp chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trường ở Ba Lan và Hungary làm ví dụ: hơn 8000 doanh nghiệp nhà nước tại Ba Lan đã được cổ phần hóa và được xem là mục tiêu chính trong quá trình chuyển đổi kinh tế; còn ở Hungary thì cổ phần hóa còn nhằm thêm mục đích thu hút được vốn đầu tư từ các công ty nước ngoài có nguồn vốn lớn và trình độ công nghệ, quản lý cao. Chủ trương cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam bắt đầu được triển khai, thực hiện vào năm 1992 và liên tục được đẩy mạnh phát triển cho đến nay. Việt Nam định hướng phát triển theo nền kinh tế thị trường và để thể hiện cho sự cam kết của Chính phủ về cải cách kinh tế, chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới thì chủ trương cổ phần hóa DNNN là tất yếu và cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên của phát triển kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế mở và hợp tác kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội kinh doanh mới, đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức mới đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và DNNN nói riêng.
Thời thế đòi hỏi các DNNN phải nhanh chóng mở rộng quy mô kinh doanh, phát triển về cả chiều rộng và chiều sâu bằng việc tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh. Để làm được điều này, các DNNN cần phải chứng tỏ được tính hiệu quả kinh doanh và có khả năng huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư. Chủ trương cổ phần hóa nhằm giúp các DNNN thay đổi về quy mô và tổ chức hoạt động, đồng thời mở rộng khả năng huy động các nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội. Một lần nữa, trong Hội nghị về sắp xếp, đổi mới DNNN giai đoạn 2006–2010 tổ chức vào ngày 07/10/2006, chủ trương cổ phần hóa DNNN đã được Thủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định “Nhiệm vụ đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp trong 5 năm tới trọng tâm là cổ phần hóa.
Mục tiêu đến năm 2010, chúng ta sẽ cơ bản cổ phần hóa xong doanh nghiệp nhà nước”1. Định giá doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Định giá doanh nghiệp là công tác xác định và quy đổi giá trị doanh nghiệp thành giá trị tiền tương đương. Giá trị doanh nghiệp là tổng các giá trị của nhiều yếu tố thuộc sở hữu doanh nghiệp, ví dụ như: tiền và các khoản tương đương tiền, tài sản hữu hình, các khoản đầu tư, góp vốn liên doanh, công nợ phải thu, lợi thế kinh doanh, giá trị thương hiệu,… Giá trị các yếu tố thành phần nêu trên có thể là hữu hình hoặc vô hình nhưng khi xác định và quy đổi ra giá trị tiền tương đương đều phải tuân thủ theo nguyên tắc thị giá và hiện giá tại thời điểm định giá doanh nghiệp. Công tác định giá doanh nghiệp vừa mang tính khoa học và vừa mang tính nghệ thuật.
Tính khoa học ở chỗ có đầy đủ các phương pháp, công thức khoa học để tính toán giá trị doanh nghiệp và mang tính nghệ thuật ở chỗ các chuyên gia phải biết lựa chọn áp dụng phương pháp, công thức như thế nào cho phù hợp với từng doanh nghiệp, từng bối cảnh thị trường và từng mục đích sử dụng. Định giá doanh nghiệp là nhằm mục đích xác định giá trị cơ sở phục vụ cho cổ phần hóa, mua bán hay sát nhập doanh nghiệp và các mục đích khác. Công thức tổng quát để định giá doanh nghiệp: Giá trị của Giá trị yếu tố Giá trị yếu tố = + doanh nghiệp hữu hình vô hình 1 Trích phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các nhân tố tác động đến giá trị doanh nghiệp Có rất nhiều nhân tố tác động giá trị doanh nghiệp trong quá trình định giá. Về cơ bản, có thể chia thành hai nhóm nhân tố, đó là: nhóm nhân tố xuất phát từ môi trường kinh doanh và nhóm nhân tố xuất phát từ nội tại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh tác động đến giá trị doanh nghiệp ở góc độ khách quan, gần như nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp, ví dụ như: môi trường kinh tế (chính sách hỗ trợ, tính ổn định, tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi suất tín dụng,…), môi trường chính trị (tính ổn định, thể chế chính trị,…), thị phần kinh doanh, môi trường cạnh tranh, nguồn cung đầu vào của doanh nghiệp, thiên tai, địch hoạ,… Tất cả những nhân tố này sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hoạt động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, làm thay đổi giá trị của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định. Các nhân tố thuộc nội tại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tác động đến hoạt động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ở góc độ chủ quan, nằm trong tầm kiểm soát của doanh nghiệp, ví dụ như: hiện trạng tài sản hữu hình, hiện trạng tài sản vô hình, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, trình độ quản lý và đội ngũ nhân sự của doanh nghiệp, độ tin cậy về chứng từ và sổ sách kế toán của doanh nghiệp,… 1. Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh Trong môi trường kinh doanh, có nhiều nhân tố tác động đến giá trị doanh nghiệp, nhưng trong phạm vi bản luận văn này chỉ nêu một số nhân tố chính có tác động tương đối trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp, đó là: Thứ nhất, môi trường kinh tế: Tất cả các yếu tố thuộc môi trường kinh tế như tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, lãi suất tín dụng, chính sách thuế,… đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến giá trị của doanh nghiệp. Môi trường kinh tế thuận lợi thể hiện bằng: sự ổn định và bền vững trong tăng trưởng kinh tế, sự duy trì tỷ lệ lạm phát phù hợp với chỉ tiêu tăng trưởng, lãi suất tín TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 dụng ổn định và phù hợp, chính sách thuế phù hợp và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển,… là cơ sở tốt làm gia tăng giá trị doanh nghiệp khi định giá bởi vì các chỉ số kinh tế này gián tiếp cho thấy những thuận lợi và cơ hội cho sự tăng trưởng ổn định và bền vững của doanh nghiệp.