CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG Lực LÀM VIỆC 1.1 Một số vấn đề cơ bản về động lực và tạo động lực làm việc 1.1 Động lực làm việc Động lực là một quá trình bên trong. Cho dù chúng ta định nghĩa nó là một động lực hay một nhu cầu, động lực là một điều kiện bên trong khi chúng ta mong muốn một sự thay đổi, về bản thân hoặc môi trường. Khi chúng ta khai thác nguồn năng lượng này, động lực sẽ mang lại cho người đó động lực và định hướng cần thiết để tương tác với môi trường theo cách thích ứng, cởi mở và giải quyết vấn đề (Reeve, 2015). Bản chất của động lực là hành vi hướng đến mục tiêu mạnh mẽ và bền bỉ.
Khi chúng ta có động lực, chúng ta di chuyển và hành động. Động lực bị ảnh hưởng bởi sự thỏa mãn các nhu cầu cần thiết để duy trì cuộc sống hoặc cần thiết cho sự phát triển. Theo đó, động lực làm việc được nhận diện với tư cách một nguồn sức mạnh tạo ra sinh lực cho hành vi của nhân viên, đồng thời nó liên quan tới hình thức, phương hướng, cường độ và thời gian tồn tại của hành vi. Trên thực tế, nghiên cứu từ báo cáo từ Trường Đại học Oxford, cho rằng những nhân viên hạnh phúc và có động lực làm việc hiệu quả hơn trung bình 13%.
Họ không chỉ làm việc hiệu quả hơn mà còn có xu hướng ở lại lâu hơn, do đó giảm chi phí doanh thu chung cho tổ chức. Nhưng mức độ động lực cần phải được đo lường và cải thiện liên tục, bởi vì nếu không như vậy và toàn bộ nhóm ngừng quan tâm đến công việc của họ, thì tác động tiêu cực của điều này có thể nhanh chóng trở nên rõ ràng. Theo Bùi Anh Tuấn (2009), động lực lao động được định nghĩa là thứ truyền năng lượng cho nhân viên để mang lại sự cam kết, nhiệt tình, mức năng lượng cao và sự sáng tạo cho tổ chức hàng ngày. Động lực của nhân viên tạo ra sự sẵn sàng giữa nhân viên để tạo ra két quả với khả năng tốt nhất của họ.
Động lực lao động được định nghĩa là thứ truyền năng lượng người lao động để mang lại sự cam kết, nhiệt tình, mức năng lượng cao và sự sáng tạo cho tổ chức hàng ngày. Động lực của nhân viên tạo ra sự sẵn sàng giữa họ để tạo ra kết quả với khả năng tốt nhất của họ. Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức.” Fernet và cộng sự, (2012), đã chỉ ra bản chất của 5 động lực lao động gồm: Động lực lao động được thể hiện qua những việc cụ thể người nhân viên đang thực hiện, và thái độ của họ với co quan, doanh nghiệp.
Đặc điểm này khác nhau ở những người lao động khác nhau và môi trường khác nhau. Động lực của người này chưa hẳn là động lực lao động của người kia. Nó có tính cá thể hoá. Mặt khác, nó có tính thay đổi thường xuyên, phụ thuộc vào yếu tố đặc thù của 1 công việc.
Thời điểm này, đó có thể là động lực cho 1 người lao động nhưng vào thời điểm khác, nó chưa hẳn là động lực cho chính người lao động đó. Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Năng suất lao động được thúc đẩy nhờ nó. Nhưng, cần hiểu rõ rằng, nó chỉ là nguồn gốc chứ không phảo là điều kiện để tăng năng suất lao động.
Bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa.2 Khái niệm và tầm quan trọng của tạo động lực làm việc Tạo động lực “là sự vận dụng hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý để tác động đến người lao động nhằm làm cho họ có động lực trong công việc, thúc đẩy họ thỏa mãn, hài lòng vói công việc và mong muốn đóng góp cho tổ chức” (Bùi & Phạm, 2013). Khi người lao động sẽ tự nguyện, hăng say làm việc, có nhiều sáng kiến đổi mới và sáng tạo hon trong công việc, giúp họ hòa nhập dễ dàng và gắn bó lâu dài với tổ chức, giảm thiểu những lãng phí không cần thiết. Khi một nhân viên có động lực làm việc đặc biệt thấp, trốn tránh các nhiệm vụ, không tập trung và không đặt bất kỳ năng lượng nào vào công việc của mình. Điều này không chỉ làm lãng phí tài nguyên của doanh nghiệp mà còn có thể gây ảnh hưởng dây chuyền đến các nhân viên khác, có khả năng cản trở toàn bộ công việc.
Và trong nghiên cứu này tác giả sử dụng khái niệm của Bùi Anh Tuấn và Phạm Thị Hưong (2009). Cụ thể, tạo động lực là “sự vận dụng hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý để tác động đến người lao động nhằm làm cho họ có động lực trong công việc, thúc đẩy họ thỏa mãn, hài lòng với công việc và mong muốn đóng góp cho tổ chức” (Bùi & Phạm, 2013).2 Một số học thuyết tạo động lực làm việc 1.1 Thuyết nhu càu cho thứ bậc của Abraham Maslow (1943) Tháp nhu cầu của Maslow là một lý thuyết động lực. Maslow lập luận rằng tất cả con người được thúc đẩy bởi năm thứ bậc nhu cầu., cụ thể như sau: - Nhu cầu sinh lý - bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như thức ăn, chỗ ở, nước và các nhu cầu cơ thể tiêu chuẩn khác. - Nhu cầu an toàn - bao gồm bất kỳ điều gì liên quan đến sự an toàn về thể chất và tinh thần, chẳng hạn như sức khỏe, sự bảo vệ, nguồn lực, v.
- Nhu cầu xã hội - đề cập đến nhu cầu tình cảm và xã hội của chúng ta, chẳng hạn như tình yêu, tình bạn, sự thuộc về, sự chấp nhận, v. - Nhu cầu được tôn trọng - bao gồm nhu cầu của chúng ta về lòng tự trọng, sự tôn trọng, quyền tự chủ, sự công nhận, v. - Nhu cầu tự thể hiện - cấp độ cuối cùng của hệ thống phân cấp bao gồm sự sáng tạo, phát triển và đạt được tiềm năng đầy đủ của họ. Maslow cho rằng khi xác định được nhu cầu của nhân viên và đảm bảo những nhu cầu đó được đáp ứng một cách tích cực có thể giúp doanh nghiệp tăng cơ hội thành công.
Khi nhân viên cảm thấy an toàn và được hỗ trợ, có cảm giác thân thuộc và được thể hiện bản thân, thái độ của họ cũng có thể ảnh hưởng đến những người xung quanh tại nơi làm việc. Sự gắn kết và động lực thường là thái độ làm việc theo nhóm, vì vậy một nhóm gồm các cá nhân cảm thấy nhu cầu của họ được đáp ứng có thể tạo ra một nền văn hóa tích cực, gắn kết hơn tại nơi làm việc. Bằng cách đầu tư vào hạnh phúc chung của nhân viên, doanh nghiệp có thể tăng sự hài lòng đồng thời thúc đẩy sự gắn kết và động lực, điều này cuối cùng sẽ tác động đến năng suất. Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, là sự tổng hòa của một hệ thống các cấu tạo phức tạp về tâm, sinh lý.
Thông thường, người lao động dành phần lớn quỹ thời gian của mình cho công việc, song điều đó không có nghĩa là họ không có các nhu cầu khác. Điều quan trọng là nhà quản lý hiểu ra được điều đó để có những chính sách phù hợp nhằm đáp ứng một cách tối đa các nhu cầu đó trong phạm vi có thể mà vẫn mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp. Nhà quản 7 lý chỉ có thể điều khiển được hành vi của nhân viên khi biết cách dùng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của họ làm cho họ hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc được giao, phấn chấn hơn.” (Mind Tools Content Team, n. Điều quan trọng là phải đánh giá xem nhân viên có cảm thấy nhu cầu của mình được đáp ứng ở vị trí hiện tại hay không.
Nhu cầu của nhân viên rất quan trọng và có giá trị, vì vậy hãy đặt những nhu cầu đó ở vị trí cao trong danh sách ưu tiên của các nhà quản lý. Nhà quản lý cũng có thể tìm cách tạo ra những thay đổi trong doanh nghiệp của mình bằng cách tạo ra một bầu không khí làm việc tích cực, hấp dan (Mind Tools Content Team, n.2 Thuyết công bang của John Stacey Adams (1963) Thuyết Công bang của Adams nhấn mạnh sự cân bằng hợp lý giữa “đầu vào” của nhân viên (làm việc chăm chỉ, trình độ kỹ năng, sự chấp nhận, sự nhiệt tình, v.) và “đầu ra” của họ (tiền lương, lợi ích, tài sản vô hình như sự công nhận, V. Theo lý thuyết, việc tìm kiếm sự cân bằng công bằng này giúp đạt được mối quan hệ bền vững và hiệu quả với nhân viên, với kết quả chung là nhân viên hài lòng và có động lực. Một nhân viên không thể có động lực làm việc nếu họ nhận ra rằng mình bị đối xử không công bằng.” Thuyết Công bằng của Adams rất quan trọng vì nó đưa ra một quan điểm độc đáo về cách nhân viên nhận thức được sự phân phối các nguồn lực trong một tổ chức.
Thuyết này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý, những người cần nhận thức được cách nhân viên của họ nhận thức được sự phân phối các nguồn lực. Neu nhân viên cảm thấy rằng họ đang bị đối xử bất công, điều đó có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực như giảm năng suất và tăng doanh thu. Thuyết công bằng của Adams đã được chứng minh là một yếu tố dự đoán mạnh mẽ về sự hài lòng và động lực của nhân viên. Bằng cách tính đến đầu vào và đầu ra của từng nhân viên, các nhà quản lý có thể tạo ra một nơi làm việc công bằng hơn dẫn đến mức độ hài lòng và năng suất của nhân viên cao hơn.3 Thuyết kỳ vọng của Vroom Vroom (1964) cho rằng hành vi và động cơ làm việc của con người không nhất thiết được quyết định bởi hiện thực mà nó được quyết định bởi nhận thức của con người về những kỳ vọng của họ trong tương lai.
Theo ông, nhân viên có ĐL khi họ tin rằng những nỗ lực của họ sẽ có kết quả tốt, từ đó có mức lương, thưởng mong muốn và xứng đáng.