Luận văn thạc sĩ giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện trấn yên tỉnh yên bái

Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, tập trung vào phát triển kinh tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

77
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tình hình giảm nghèo tại huyện Trấn Yên

Huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, là một trong những địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo tại huyện này đã giảm từ 20,58% năm 2016 xuống còn 9,3% vào năm 2018. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chiếm tới 49,44% trong tổng số hộ nghèo toàn tỉnh. Điều này cho thấy, việc thực hiện các giải pháp giảm nghèo bền vững là rất cần thiết và cấp bách. Các chương trình giảm nghèo đã được triển khai, nhưng vẫn cần có những chính sách và giải pháp phù hợp hơn để đảm bảo sự phát triển bền vững cho người dân.

1.1. Thực trạng nghèo tại huyện Trấn Yên

Thực trạng nghèo tại huyện Trấn Yên cho thấy nhiều hộ gia đình vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo nghiên cứu, tỷ lệ thiếu hụt các chỉ tiêu như nhà ở, vệ sinh, và dịch vụ y tế còn rất cao. Cụ thể, 62,64% hộ nghèo không có nhà tiêu hợp vệ sinh, 52,75% thiếu diện tích nhà ở. Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày mà còn cản trở sự phát triển kinh tế của các hộ gia đình. Việc phân tích thực trạng này là cần thiết để đưa ra các giải pháp giảm nghèo hiệu quả hơn.

II. Nguyên nhân nghèo đói tại huyện Trấn Yên

Nghiên cứu chỉ ra rằng nguyên nhân nghèo đói tại huyện Trấn Yên chủ yếu do thiếu vốn sản xuất, thiếu đất canh tác và thiếu phương tiện sản xuất. Những yếu tố này làm cho người dân không thể cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống. Đặc biệt, việc thiếu thông tin và kỹ năng trong sản xuất nông nghiệp cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo đói. Các hộ nghèo thường không có khả năng tiếp cận các nguồn lực và dịch vụ hỗ trợ từ chính quyền địa phương, dẫn đến việc họ không thể thoát nghèo một cách bền vững.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo

Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo tại huyện Trấn Yên bao gồm chính sách hỗ trợ từ chính quyền, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, và sự tham gia của cộng đồng trong các chương trình phát triển. Việc nâng cao nhận thức và năng lực cho người dân về các chính sách giảm nghèo là rất quan trọng. Hơn nữa, việc huy động nguồn lực từ các tổ chức xã hội và doanh nghiệp cũng cần được chú trọng để tạo ra những cơ hội phát triển cho người dân.

III. Giải pháp giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Để giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Trấn Yên, cần triển khai đồng bộ các giải pháp. Đầu tiên, cần có sự lãnh đạo và chỉ đạo mạnh mẽ từ chính quyền địa phương trong việc thực hiện các chính sách giảm nghèo. Thứ hai, cần nâng cao năng lực và nhận thức cho cán bộ và người dân về giảm nghèo gắn với xây dựng nông thôn mới. Cuối cùng, việc huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội và kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện cũng là những yếu tố quan trọng để đảm bảo tính bền vững của các giải pháp.

3.1. Các nhóm giải pháp cụ thể

Các nhóm giải pháp cụ thể bao gồm: (1) Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong việc thực hiện các chính sách giảm nghèo; (2) Nâng cao năng lực cho cán bộ và người dân; (3) Triển khai đồng bộ các chính sách về giảm nghèo; (4) Huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội; (5) Kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện. Những giải pháp này không chỉ giúp giảm nghèo mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Trấn Yên.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nghèo Có nhiều khái niệm về nghèo đói của các tổ chức và quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như theo thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trưng khác nhau của nghèo đói. Song quan niệm thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và các nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối hiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định” (Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội,2015) Tại hội nghi về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 các quốc gia trong hku vực đã thống nhất cho rằng “Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được xã hội thừa nhận” (Escap, 1993) Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội.

Tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hang đầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO) ông Abaplaen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1997 cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”. Xét cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng sự khác nhau để phân biệt giữa họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống và thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn người nghèo. Dựa trên những quan niệm về nghèo đói của các cá nhân và tổ chức trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể và được nghiên cứu ở mức độ cá nhân và cộng đồng.

Nghèo, đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ thiếu ăn từ 1 đến 2 tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng. Đói là thang thấp nhất của nghèo, đói thuần túy là đói ăn, đói nằm trọn trong phạm trù kinh tế vật chất và khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hóa, thuộc phạm trù văn hóa tinh thần. Đói cũng có hai dạng là đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt) : - Đói kinh niên là đói từ đời này sang đời khác, là bộ phận dân cư nghèo đói nhiều năm liền cho tới thời điểm đang xét.

- Đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét. Qua đây có thể thấy được các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo: - Không được hưởng những nhu cầu cơ bản nhất ở mức độ tối thiểu dành cho con người. - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.

Chuẩn mực xác định nghèo đói * Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với hai cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD. Phương pháp PPP (purchasing power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD. Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: + Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.000 USD/người/năm là nước giàu.000 USD/người/năm là nước khá giàu.000 USD/ngươi/năm là nước trung bình. + Từ 500 đến dưới 2.500 USD/người/năm là nước nghèo.

+ Dưới 500 USD/người/năm là nước cực nghèo. Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau: + Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0. + Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày. + Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày.

+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày. + Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày. Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn của riêng nước mình thông thường thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng thế giới đưa ra. Ví dụ như Mỹ đưa ra chuẩn nghèo là mức thu nhập dưới 16.000 Kcal đối với một hộ gia đình chuẩn (gia đình 4 người) trong một năm tương đương với 11,1 USD/ngày/người.

Nhưng cần thấy rằng, ngoài thu nhập nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội, sức khỏe, trình độ… Vì vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc gia bình quân, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người HDI bao gồm hệ thống 3 chỉ tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn và thu nhập bình quân đầu người trong năm. Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận nước giàu nghèo tương đối chính xác và khách quan. * Chuẩn mực xác định nghèo đói ở Việt Nam Bảng 1. Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia) Nghèo (KV nông thôn, miền ≤ 80.000 đồng núi, hải đảo) 2001 - 2005 (mức thu Nghèo (KV nông thôn, đồng nhập tính bằng tiền) ≤ 100.000 đồng bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) ≤ 150.000 đồng nhập tính bằng tiền) Nghèo (KV thành thị) ≤ 260.000 đồng nhập tính bằng tiền) Nghèo (KV thành thị) ≤ 500.000 đồng (Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH, chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN và Quyết định số 170/2005/QĐ-TT; Quyết định số 59/2015 TTg) Phương pháp chuẩn nghèo này đã được đánh giá phù hợp với mức sống và thu nhập của dân cư nói chung, cũng như thu nhập của 20% nhóm nghèo nhất, đảm bảo được khả năng huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu dự kiếp và đáp ứng được yêu cầu từng bươc tiếp cận và hội nhập quốc tế.

* Tiêu chí xác định chuẩn xã nghèo: Năm 2002, Bộ Thương binh và xã hội có Quyết định số: 587/2002/QĐ- BLĐTBXH quy định xã nghèo (ngoài chương trình 135) là xã có đầy đủ tiêu chí sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 - Có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên. - Chưa có đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu, cụ thể như sau: + Dưới 30% số họ được sử dụng nước sạch. + Dưới 50% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt. + Chưa có đường ô tô tới trung tâm xã, ô tô không đi lại được cả năm.

+ Số phòng học mới đáp ứng được 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng tạm bằng tranh, tre, nứa, lá. + Chưa có trạm y tế, hoặc có nhưng là nhà tạm. + Chưa có chợ hoặc chợ tạm. * Các khía cạnh của nghèo đói - Về thu nhập: Đa số những người nghèo có cuộc sống khó khăn cực khổ và có mức thu nhập thấp.

Điều này do tính chất công việc của họ đem lại. Người nghèo thường làm công việc đơn giản, lao động chân tay, công việc cực nhọc nhưng thu nhập thấp. Công việc thường bấp bênh, không ổn định, phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro liên quan đến thời tiết ( mưa, nắng, hạn hán, lũ lụt, động đất…). Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ví dụ cho vấn đề này.

Do thu nhập thấp nên chi tiêu trong cuộc sống của những người nghèo hạn chế hầu hết các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày chỉ được đáp ứng ở mức thấp thậm chí là không đủ. Điều này kéo theo hàng loạt vấn đề khác như giảm sức khỏe, giảm sức lao động từ đó giảm thu nhập đã tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo. - Y tế - giáo dục: Những người nghèo thường mắc phải những căn bệnh như cảm cúm, đau khớp… vì phải lao động cực nhọc. Ngoài ra họ còn phải sống trong những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế còn hạn chế.

Họ không được sử dụng nước sạch, không có công trình khép kín, dẫn đến tăng tỷ lệ số trẻ em bị suy dinh dưỡng và bà mẹ bị mang thai thiếu máu. Nguyên nhân là do bị đối xử bất bình đẳng trong xã hội người nghèo không được tiếp xúc với các dịch vụ an sinh xã hội so với người giàu. Bên cạnh đó trình độ nhận thức của người nghèo, họ thường không quan tâm tới sức khỏe của mình, chủ quan khiến bệnh càng trầm trọng hơn. Tình trạng giáo dục đối với người nghèo cũng là vấn đề đáng quan tâm.

Hầu hết những người nghèo không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn. Tỷ lệ thất học, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 mù chữ ở hộ nghèo, đói rất cao. Tình trạng này do các gia đình không thể trang trải được lệ phí, học phí cho con cái hoặc do tâm lý cổ hủ lạc hậu không cho con cái đi học vì sẽ mất đi 1 lao động. Hiện nay một số hộ nghèo đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đến trường tuy nhiên vấn đề chi phí cho học tập rất là khó khăn đối với tình hình tài chính của gia đình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này không có tiêu đề cụ thể, nhưng có thể cung cấp những thông tin hữu ích về SEO và tối ưu hóa website. Nội dung chính có thể xoay quanh các phương pháp và chiến lược để cải thiện thứ hạng của website trên các công cụ tìm kiếm, từ đó thu hút nhiều lượt truy cập hơn và nâng cao hiệu quả kinh doanh trực tuyến.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Tiểu luận thảo luận nhóm tmu tối ưu hóa website httphonglinhsoft com trên công cụ tìm kiếm google, nơi bạn sẽ tìm thấy những chiến lược cụ thể để tối ưu hóa website. Bên cạnh đó, Luận văn tối ƣu hóa website khacdauankhanh com vn trên các công cụ tìm kiếm cũng sẽ cung cấp thêm góc nhìn về cách cải thiện hiệu suất của website. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ phân tích hành vi khách hàng trên website và giải pháp marketing trực tuyến sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hành vi của người tiêu dùng và cách tối ưu hóa trải nghiệm của họ trên website. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào các khía cạnh của SEO và tối ưu hóa website.