CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN -15- 1. Tổng quan về Quy hoạch đô thị 1. Lịch sử phát triển Quy hoạch đô thị - Ở nước ta, công tác QHĐT trải qua nhiều năm với nhiều sự thay đổi, do chịu ảnh hưởng của sự thay đổi lịch sử, các điều kiện kinh tế - xã hội biến đổi làm tác động nhiều đến việc xây dựng QHĐT. Một mặt, QHĐT được lập trên cơ sở yêu cầu của việc xây dựng những đô thị mới, đáp ứng về mặt quy mô phát triển của xã hội, sự thay đổi đó làm khác đi bộ mặt đô thị của những thập kỷ trước đây khi đây kiến trúc đô thị chịu ảnh hưởng khá nhiều những kiến trúc do người Pháp để lại.
Những thay đổi này đã làm cho đô thị ngày nay có nhiều điểm nổi bật, khác biệt so với trước đó, tiến bộ hơn, hiện đại hơn và thỏa mãn tốt hơn đời sống của người dân đô thị. - Điều này dẫn đến những thành quả trong công tác QHĐT, nó thể hiện sự tác động tích cực từ các yếu tố như: thể chế chính trị, quy mô nền kinh tế, năng lực quản lý của nhà nước, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật, bản sắc văn hóa của dân tộc và sự tiếp tiếp tiếp thu những tinh hoa của thế giới; trong đó Nhà nước giữ vao trò định hướng, mang tính chủ đạo. Khái niệm về Quy hoạch đô thị - Nội dung chủ yếu của QHĐT là tổ chức không gian sống cho các đô thị và các khu vực đô thị. Nội dung này dự báo các khả năng phát triển đô thị, xác định các nguồn lực hiện có của đô thị, các yêu cầu đạt ra cho một đô thị, những tác động tích cực và tiêu cực có khả năng xảy ra trong tương lai và xây dựng định hướng phát triển.
Mục tiêu cuối cùng là hướng tới sự phát triển bền vững trên cơ sở đảm bảo hài hòa các yếu tố của không gian đô thị, sự gắn kết giữa các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội đô thị với phát triển tổng thể kinh tế - xã hội. - Ở nước ta hiện nay, do điều kiện kinh phí, trang thiết bị, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác QHĐT, quan điểm quy hoạch còn mang ý chí chủ quan, các yếu tố khác còn nhiều bất cập; Công tác QHĐT thường đi sau thực tiễn; do đó, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng QHĐT [6]. Khái niệm về Quy mô đô thị Tại mỗi nước, quy mô đô thị phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước đó. Ở nước ta, theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị, quy định đô thị được chia thành 6 loại: Loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V; theo các tiêu chí cơ bản sau đây: Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị; quy mô dân số; mật độ dân số; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng.
Cụ thể [7]: - Đô thị loại đặc biệt đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây: + Thủ đô hoặc đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 90% trở lên. + Có cơ sở hạ tầng được xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh. + Quy mô dân số từ 1,5 triệu người trở lên.
+ Mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/km2 trở lên. - Đô thị loại I đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây: + Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước; + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động (từ 85% trở lên); + Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh; + Quy mô dân số phải đạt 50.000 đến dưới một triệu dân; + Mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/km2 trở lên. - Đô thị loại II đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây: + Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng liên tỉnh, hoặc -17- cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước; + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80% trở lên; + Có cơ sở hạ tầng xây dựng nhiều mặt tiến tới đồng bộ và hoàn chỉnh; + Quy mô dân số từ 25 vạn người trở lên; + Mật độ dân số bình quân từ 10.000 người/km2 trở lên. - Đô thị loại III đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây: + Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị kinh tế, văn hóa khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh; + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 75% trở lên; + Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh; + Quy mô dân số từ 10 vạn người trở lên; + Mật độ dân số bình quân từ 8.000 người/km2 trở lên.
- Đô thị loại IV đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây: + Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh; + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 70% trở lên; + Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh; + Quy mô dân số từ 5 vạn người trở lên; + Mật độ dân số bình quân từ 6.000 người/km2 trở lên. - Đô thị loại V đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây: + Đô thị với chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc chuyển ngành về chính trị, kinh tế, văn hóa và dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một huyện hoặc một cụm xã; -18- + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 65% trở lên; + Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng nhưng chưa đồng bộ và hoàn chỉnh; + Quy mô dân số từ 4.000 người trở lên. + Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên [5]. Vai trò và nhiệm vụ Quy hoạch đô thị 1.
Vai trò - Quá trình phát triển đô thị Việt Nam đã khẳng định vai trò của công tác quy hoạch xây dựng. Đó là bước đi đầu, là công tác thường xuyên và quan trọng. Luật Quy hoạch đô thị ban hành năm 2009 cùng với các văn bản hướng dẫn đã xác lập rõ khung pháp lý cho cả quá trình hoạt động quy hoạch đô thị. Quy hoạch chung được xác định là cơ sở, là căn cứ để kết nối với vùng, với cả nước và không chỉ với quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết.
Khi nghiên cứu quy hoạch chung đô thị phải có tầm nhìn xa, có chất lượng và tính khả thi đa ngành. Phải gắn với cả hệ thống quy hoạch ở cấp tỉnh thành phố. Nhiệm vụ - Xây dựng những định hướng chung cho quy hoạch tổng thể đô thị cả nước, gắn với quy hoạch của từng vùng, từng ngành và mục tiêu chiến lược phát triển kinh – xã hội của đất nước; đảm bảo tính thống nhất, tính lợi ích giữa các khu vực, giữa các ngành và các địa phương. - Xây dựng QHĐT vừa phù hợp với thực tiễn hiện tại, nhưng cần dự báo cho tương lai, có tầm nhìn rộng, dự báo xu thế phát triển trong thời gian tới để tránh đi sự lạc hậu và những rủi ro trong quá trình triển khai QHĐT QHĐT mang tính bền vững, đảm bảo môi trường; giữ gìn bảo tồn các di tích văn hóa, cảnh quan, lịch sử và nét văn hóa đặc trưng từng vùng, từng địa phương.
- QHĐT phái tính đến việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đô thị; đảm bảo quỹ đất nông nghiệp cho mục tiêu an toàn lương thực. -19- - QHĐT đảm bảo sự đồng bộ về kết cầu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; cấp thoát nước, chiếu sáng công cộng xử lý chất thải sự phát triển không gian đô thị về kiến trúc. Trong đó đặc biệt ưu tiên phát triển các công trình phúc lợi cho cộng đồng như: công trình y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, thương mại, công viên, cây xanh… - Đảm bảo sự liên thông với các công trình hạ tầng kỹ thuật cấp vùng, quốc gia và quốc tế. Thực trạng quy hoạch, quản lý QHĐT tại Việt Nam Ở nước ta, trong quá trình lập các đồ án quy hoạch còn nhiều tồn tại bất cập như còn thiếu thốn về kinh phí, hạn chế về năng lực chuyên môn của cán bộ, tư duy địa phương của một số cán bộ lãnh đạo làm cho chất lượng các đồ án quy hoạch thường không cao, thiếu tính thực tiễn và không đảm bảo tầm nhìn chiến lược dài dạn.
Quy hoạch khi ra đời thường đi sau thực tế, phải điều chỉnh lại cho phù hợp với thực tế. Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam sau những năm đổi mới đã tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, và trên toàn bộ đời sống xã hội. Quá trình tăng trưởng đó có vai trò đóng góp rất quan trọng của công tác quy hoạch, là động lực phát triển đất nước. Tuy vậy, còn những tồn tại cần tiếp tục khắc phục trong thời gian tới là: 1.