CHƯƠNG 1. CO SỎ LÍ LUẬN VÀ THỤC TIẺN 1. Một sô khái niệm vê giáo dục tài chính 1. Khái niệm tài chính % Có rất nhiều khái niệm về tài chính khác nhau dưới góc nhìn khác nhau cả về góc độ pháp lỷ lẫn kinh tế.
Có thể hiểu một cách tổng quan, tài chính phản ánh tổng họp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy hay tiêu dùng của các chủ thể. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Thành [23] có hai định nghĩa về tài chính: Thứ nhất: Tài chính là một phạm trù kinh tế, tồn tại khách quan và mang tính lịch sử. Tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Những điều kiện kinh tế xà hội này là những tiền đề khách quan cho sự ra đời và phát triển của tài chính.
Những tiền đề đó là nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ và nhà nước. Thứ hai: Tài chính cũng có thể được hiểu là một lình vực khoa học nghiên cứu việc quản lý tiền tệ. Một trong những điểm mấu chốt của tài chính là giá trị thời gian của tiền. Tài chính nhằm vào việc định giá các tài sản dựa vào mức độ rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của các tài sản đó.
Tài chính có thế được chia thành ba nhóm chính: Tài chính công, tài chính doanh nghiệp và tài chính cá nhân. Tuy nhiên trong chương trình giáo dục Phổ thông 2018 thì nội dung cần được giáo dục với học sinh chính là tài chính cá nhân. Tài chính cá nhân là việc quản lý, chi tiêu, sử dụng tiền bạc và của cải của các cá thê hoặc hộ gia đình với một mức độ rủi ro và các kế hoạch tương lai đã lường trước. Tài chính cá nhân cũng là các quyết định tài chính , các hoạt động liên quan tới tài chính bao gồm lập ngân sách cá nhân, tiết kiệm, bảo hiếm, đầu tư, hưu trí và di sản [23].
Khái niệm hiểu biết tài chính Khái niệm về “hiểu biết tài chính” cho đến ngày nay vẫn chưa có sự thống nhất, vẫn được diễn giải theo nhiều cách khác nhau trong mỗi nghiên cứu, mồi chương trình, dự án. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm của OECD (Tồ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) - đơn vị đầu tiên lập ra dự án GDTC. Theo OECD (2012), “ Hiểu biết tài chính” được định nghĩa là tổng họp nhận thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi tài chính cần thiết đế có thể đưa ra các quyết định tài chính lành mạnh và cuối cùng đạt được lợi ích tài chính. Do đó, OECD giải quyết vấn đề tài chính trong ba khía cạnh: Kiến thức tài chính, hành vi tài chính và thái độ tài chính [33].
Trong luận văn này chúng tôi muốn truyền đạt cho học sinh về kiến thức tài chính có liên quan tới chủ đề Dãy số, cấp số cộng, cấp số nhân. Thông qua việc giáo dục kiến thức tài chính nhằm thay đối thái độ và hành vi tài chính của học sinh trong tương lai. Như vậy, hiểu biết tài chính và GDTC rất quan trọng đối với việc thúc đẩy phố cập kiến thức tài chính ở mỗi quốc gia, thông qua GDTC trong trường học, HS ý thức được tầm quan trọng của việc sử dụng tài chính họp lí. Khái niệm hành vỉ tài chính Theo lý thuyết hành vi, hành vi tài chính có thế được định nghĩa là tất cả các hành vi của con người liên quan đến quản lý tiền bạc [37].
Hành vi tài chính là một trong những phần cốt lõi và cho phép đo lường hiểu biết tài chính [6]. Tác giả John chỉ ra rằng, một người có hiểu biết tài chính ở mức cao thì sẽ có những hành vi tài chính ít rủi ro. Có thể phân loại một cách tương đối các hành vi tài chính thông qua các hành vi cụ thể( single acts) hoặc theo nhóm (categories) phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể. Ví dụ, hành vi quản lý dòng tiền có thể bao gồm thu thập hóa đơn, ghi chép hóa đơn, tính toán số tiền đã tiêu, số tiền thu được.
Khái niệm giáo dục tài chính Giáo dục tài chính ở nhà trường phổ thông đề cập đến việc giảng dạy kiến thức, rèn luyện kỹ năng, điều chỉnh hành vi, hình thành thái độ và giá trị để người học có thể đưa ra những quyết định tài chính họp lí, hiệu quả trong cuộc sống hàng ngày cũng như khi họ trưởng thành [18]. 15 Giáo dục tài chính là quá trình mà người tiêu dùng, nhà đâu tư tài chính nâng cao sự am hiếu của bản thân về sản phấm tài chính, khái niệm và rủi ro tài chính, thông qua thông tin, hướng dẫn hoặc tư vấn khách quan; phát triến các kĩ năng, sự tự tin, nhận thức rõ hơn về các rủi ro và cơ hội tài chính, từ đó có thế tìm kiếm sự giúp đỡ, đưa ra lựa chọn sáng suốt và thực hiện các hành động hiệu quả khác để dần cải thiện trạng thái an tâm tài chính của bản thân [33]. Theo tác giả Trần Thị Phương Nam và cộng sự [18], đối với học sinh phố thông thì mục tiêu của quá trình giáo dục tài chính là phát triển khả năng ra quyết định tài chính hiệu quả, có trách nhiệm trong cuộc sống hàng ngày của cá nhân và cộng đồng. Trải qua quá trình GDTC (trong trường lớp, nhờ tư vấn - huấn luyện, học trên nền tảng công nghệ, tự học,.), mỗi cá nhân thu nhận thông tin, rèn luyện kĩ năng, cải thiện sự tự tin và được hình thành động lực tích cực để hành động [27].
Kết quả mong đợi của quá trình GDTC là ốn định trạng thái an tâm tài chính, đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ tài chính cho hiện tại và tương lai, có thế tận hưởng cuộc sống hạnh phúc. GDTC, nói một cách chung nhất là quá trình phát triển khả năng ra quyết định tài chính một cách hiệu quả, có trách nhiệm trong cuộc sống hằng ngày của mồi cá nhân và cộng đồng. Tóm lại, GDTC ở nhà trường phố thông là một chương trình dạy học các kĩ năng tài chính cơ bản cho các em HS. Chương trình này bao gồm các khía cạnh như: quản lí ngân sách, đầu tư, tiết kiệm, vay và trả nợ, bảo hiểm và lập kế hoạch tài chính.
Mục đích của GDTC ở nhà trường phổ thông là giúp HS hiểu và quản lí tài chính cá nhân của bản thân, đồng thời giúp họ trở thành những người tiêu dùng thông thái và đạt được mục tiêu tài chính của bản thân trong tương lai. Theo OECD (2005) đã thừa nhận rằng “GDTC nên bắt đầu ở trường học. Mọi người nên được giáo dục về các vấn đề tài chính càng sớm càng tốt trong cuộc sống của họ”[32]. Vi vậy, GDTC có vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông.
Năng lực tính toán tài chính Theo CTGDPT tổng thể môn Toán có nhiệm vụ phát triển năng lực tính toán, có biếu hiện đặc trưng nhất là các năng lực toán học như: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực mô hình hoá toán học, năng lực giao tiếp toán học và năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán, nên thuật ngữ được chọn là năng lực tính toán tài chính [2]. Năng lực tính toán tài chính là khả năng huy động kiến thức, kĩ năng về toán học và về tài chính, với tâm thế, thái độ, niềm tin, giá trị cá nhân tương xứng để đưa ra quyết định giải quyết các vấn đề trong cuộc sống một cách tối ưu trong khuôn khổ. Cái gốc của năng lực tính toán tài chính là kiến thức toán học, kiến thức tài chính đã được trang bị cùng với kĩ năng toán học và kĩ năng tài chính đã được rèn luyện. Đe có thể huy động hiệu quả những tiềm năng này, cần có năng lực trí tuệ và tâm thế, thái độ, niềm tin, giá trị cá nhân phù hợp.
Năng lực tính toán tài chính có biểu hiện cuối cùng, cao nhất là làm chủ được nguồn lực tiền bạc, vật chất của bản thân hoặc do bản thân huy động được để sinh sống hạnh phúc, hoà đồng với thiên nhiên, với cộng đồng và tạo ra giá trị cho xã hội [6]. Khi dạy học chủ đề Dãy số, cấp số cộng, cấp số nhân theo định hướng GDTC thì năng lực tài chính cần được hình thành là: Tính được tiền lãi theo công thức lãi đơn, lãi kép. Lập được kế hoạch tài chính cá nhân trong một giai đoạn nhất định. Hiểu và tính được số tiền của một niên kim, bảo hiểm và quản lí rủi ro.
Dạy học chủ đề dãy số, cấp số cộng, cấp số nhân theo định hưởng giáo dục tài chính 1. Nôi dung, yêu cầu cần đạt chủ đề Dãy sắ, cấp số cộng, cấp sắ nhân môn Toán 11 theo CTGDPT20Ỉ8 17 Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 [2] thì yêu cần cần đạt chủ đề dãy sô, câp sô cộng và câp sô nhân như sau: Nội dung Yêu cầu cần đạt ♦ Dãy số. Dãy số tăng, - Nhận biết được dãy số hữu hạn, dãy số vô hạn. dãy số giảm - Thể hiện được cách cho dãy số bằng liệt kê các số hạng; bằng công thức tổng quát; bằng hệ thức truy hồi; bàng cách mô tả.
- Nhận biết được tính chất tăng, giảm, bị chặn của dãy số trong những trường hợp đơn giản. Cấp số cộng. Số hạng - Nhận biết được một dãy số là cấp số cộng. tông quát của cấp số - Giải thích được công thức xác định số hạng tống quát của cộng.
Tông của n số cấp số cộng. hạng đầu tiên của - Tính được tổng của n số hạng đầu tiên của cấp số cộng. cấp số cộng - Giải quyết được một số vấn đề thực tiễn gắn với cấp số cộng đế giải một số bài toán liên quan đến thực tiễn (ví dụ: một số vấn đề trong Sinh học, trong Giáo dục dân số,. Cấp sổ nhân, số - Nhận biết được một dãy số là cấp số nhân.
hạng tông quát của - Giải thích được công thức xác định số hạng tổng quát của cấp số nhân. Tông cấp số nhân. của n số hạng đầu - Tính được tổng của n số hạng đầu tiên của cấp số nhân. tiên của Cấp số nhãn - Giải quyết được một số vấn đề thực tiễn gắn với cấp số nhân để giải một số bài toán liên quan đến thực tiễn (ví dụ: _4-A _ 1- 2 ~ 1 * £ X______ __ £ o • K một sô vân đê lãi suât, bảo hiêm, trong môn Sinh học ,1 trong Giáo dục dân số,.