CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THỎA MÃN TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG: 1.1 Sự thoả mãn trong công việc: Định nghĩa: Công việc là một phần trung tâm của hầu hết mọi ngƣời trong cuộc sống. Ngƣời trƣởng thành dành gần nhƣ toàn bộ thời gian thức dậy để làm việc vì sự phát triển nghề nghiệp chiếm gần 70% trong tất cả các nhiệm vụ phát triển của con ngƣời. Do đó, điều quan trọng là các nhân viên cảm thấy thoả mãn với công việc của họ hoặc nếu không, nó có thể dẫn đến sự thất vọng, tức giận và trong một số trƣờng hợp thậm chí trầm cảm. Sự thoả mãn về công việc đƣợc phản ánh bởi nhu cầu của cảm giác hoàn thành và kỳ vọng cho công việc trở nên thú vị, đầy thách thức và thỏa mãn cá nhân.
Có rất nhiều nghiên cứu về sự thoả mãn trong công việc, và kết quả thƣờng đƣợc đánh giá cao về cả lợi ích cho bản thân nhân viên và lợi ích cho cả doanh nghiệp. Khi nhân viên đƣợc thoả mãn, họ có xu hƣớng quan tâm nhiều hơn đến chất lƣợng công việc của họ, họ đƣa ra cam kết cho doanh nghiệp nhiều hơn và họ thƣờng có năng suất cao hơn. Theo một cuộc khảo sát năm 2019 của ban Hội Nghị (Mỹ) chỉ ra rằng sự thoả mãn trong công việc hiện đang ở mức cao nhất trong vòng 20 năm trở lại đây. Vì vậy, sự thoả mãn trong công việc sẽ ảnh hƣởng đến một doanh nghiệp nhƣ thế nào? Đầu tiên chúng ta cần biết chính xác “sự thoả mãn trong công việc” là gì? Sự thoả mãn trong công việc là nói về cảm xúc của một ngƣời nào đó họ cảm thấy thoả mãn về công việc mình đang làm, nó đóng vai trò nhƣ một động lực làm việc.
Sự thoả 6 mãn trong công việc có thể đƣợc định nghĩa là phản ứng cảm xúc tích cực mà bạn trải nghiệm đƣợc thông qua quá trình làm công việc của mình hoặc khi bạn có mặt tại nơi làm việc. Theo Hoppock (1935) mô tả sự thoả mãn của công việc là bất kỳ hoàn cảnh tâm lý, sinh lý và môi trƣờng nào và ngƣời nhân viên bày tỏ rằng họ thoả mãn với công việc của họ. Theo Smith và các cộng sự (1969) định nghĩa sự thoả mãn trong công việc là cảm giác cá nhân về công việc của họ. Theo Locke (1969) cho rằng sự thoả mãn trong công việc là phản ứng tích cực hoặc dễ chịu đến từ thành tựu họ đạt đƣợc trong công việc hay những trải nghiệm họ có đƣợc khi làm việc.
Theo Vroom (1982) cho rằng, sự thoả mãn trong công việc là những cảm xúc của nhân viên có đƣợc khi nghĩ đến vai trò của mình trong công việc hiện tại. Tƣơng tự, Schultz (1982) khẳng định rằng sự thoả mãn trong công việc về cơ bản là sự điều chỉnh về mặt tâm lý của ngƣời lao động đối với công việc của họ. Siegal và Lance (1987) phát biểu rằng “sự thoả mãn trong công việc là một phản ứng cảm xúc xác định mức độ mà mọi ngƣời thích công việc của họ đang làm”. Theo Lofquist và Davis (1991), đã xác định sự thoả mãn trong công việc là một phản ứng tâm lý tích cực của một cá nhân đối với môi trƣờng làm việc khi mục tiêu nhu cầu của họ đƣợc đáp ứng đầy đủ bởi môi trƣờng này.
Theo Spector (1997) định nghĩa sự thoả mãn trong công việc đƣợc dựa trên mức độ yêu thích công việc của nhân viên đó, đó là thái độ về nhận thức (tích cực hay tiêu cực) của nhân viên về công việc hay môi trƣờng làm việc của họ. 7 Theo Mueller và McCloskey (1990) sự thỏa mãn trong công việc có thể đƣợc định nghĩa là ảnh hƣởng tích cực đến việc làm và nó đƣợc cho là một đánh giá khá ổn định về cách công việc đáp ứng nhu cầu, mong muốn hoặc kỳ vọng của nhân viên ( theo Fisher, 2003). Trong nghiên cứu, sự thỏa mãn trong công việc đã đƣợc đánh giá bằng cách sử dụng các khía cạnh toàn cầu cũng nhƣ nhiều khía cạnh nhƣ tiền lƣơng, sự phát triển nghề nghiệp, ngƣời giám sát, v. Sự thỏa mãn trong công việc đã và đang đóng một vai trò chính trong nghiên cứu quản lý, cụ thể là liên quan đến mối quan hệ giữa sự thỏa mãn trong công việc và hiệu suất công việc (Petty và cộng sự, 1984; Fisher, 2003).
Việc tìm kiếm mối quan hệ giữa sự thỏa mãn trong công việc và hiệu quả công việc đã đƣợc gọi là “Chén Thánh” của nghiên cứu hành vi doanh nghiệp (Weiss và Copranzano, 1996). Quan niệm cho rằng nhân viên thỏa mãn sẽ thực hiện công việc hiệu quả hơn là cơ sở của nhiều lý thuyết về hiệu suất, khen thƣởng, thiết lập kế hoạch công việ và lãnh đạo (Shipton và cộng sự, 2006). Các nhà quản lý và nhân viên đƣợc cho là tin vào cái đƣợc gọi là "giả thuyết sự hạnh phúc - năng suất ngƣời lao động" (Fisher, 2003). Bất kể sự thành công nào mà các học giả có thể đã đạt đƣợc trong việc chứng minh mối liên hệ giữa Sự thỏa mãn và Hiệu suất công việc, nhân tố sau vẫn là một trong những biến số nổi bật nhất trong nghiên cứu khoa học kinh doanh và hành vi doanh nghiệp (Spagnoli và cộng sự năm 2012).
Chủ đề này dƣờng nhƣ phù hợp với các học giả, nhà quản lý và nhân viên. Nó có liên quan đối với các học giả quan tâm đến việc đánh giá chủ quan về điều kiện làm việc; cho các nhà quản lý và nhà nghiên cứu về kết quả của doanh nghiệp (ví dụ: cam kết của doanh nghiệp, hành vi ngoài vai trò); đối với nhân viên, sự thỏa mãn trong công việc có ý nghĩa đối với hạnh phúc chủ quan của mỗi nhân viên (Judge và Hulin năm 1993) và thỏa mãn về cuộc sống của họ (Judge và Watanabe năm 1993), và nó đƣợc cho là có ý nghĩa quan trọng vì nó là một hệ quả phổ biến bao 8 gồm tất cả các ngành nghề, công việc, công việc và bối cảnh (Spagnoli và cộng sự năm 2012). Theo Mosadeghard (2003) Sự thỏa mãn trong công việc có thể đƣợc định nghĩa là một trạng thái tâm lý về cách mà một cá nhân cảm thấy nhƣ thế nào đối với công việc họ đang làm, nói cách khác, đó là cảm xúc và thái độ của ngƣời lao động về nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài đối với công việc và doanh nghiệp mà họ đang làm việc. Các yếu tố của sự thỏa mãn trong công việc có liên quan đến việc trả lƣơng, thăng chức, phúc lợi, tính chất công việc, sự giám sát của cấp trên và mối quan hệ với đồng nghiệp.
Kuria (2011) lập luận rằng nhân viên có sự thỏa mãn nhất và có năng suất cao nhất khi công việc của họ mang lại cho họ sự an toàn về tài chính cá nhân, doanh nghiệp và cấp trên ghi nhận nỗ lực của họ, chính sách rõ ràng, nhân viên có cơ hội đóng góp ý kiến và đề xuất, tham gia vào việc ra quyết định và quản lý công việc, có cơ hội thăng tiến trong công việc, lợi ích phụ, có bảo hiểm và phúc lợi đầy đủ, và cuối cùng là bầu không khí tôn trọng tin cậy lẫn nhau. Sự thỏa mãn trong công việc có nghĩa là một trạng thái cảm xúc dễ chịu của cảm giác có đƣợc từ việc thực hiện công việc (Simatwa, 2011). Sự thỏa mãn trong công việc là một thái độ liên quan đến thái độ tổng thể đối với cuộc sống, hoặc sự thỏa mãn trong cuộc sống (Illies và cộng sự năm 2009) cũng nhƣ chất lƣợng dịch vụ (Schneider và Bowen năm 1985). Điều quan trọng cần nhớ là sự thoả mãn trong công việc có sự khác nhau giữa các nhân viên cùng doanh nghiệp.
Trong cùng một nơi làm việc và dƣới cùng một điều kiện làm việc nhƣ nhau, các nhân tố mà giúp cho một nhân viên cảm thấy tốt về công việc của họ có thể không đúng cho các nhân viên khác. 9 Các doanh nghiệp hàng đầu hiện nay đang cố gắng đo lƣờng cảm giác này, với các cuộc khảo sát về sự thoả mãn trong công việc trở thành một nhân tố chính tại hầu hết các nơi làm việc. Ví dụ về các doanh nghiệp họ đề cao vào sự thoả mãn của nhân viên: 1. Amazon đƣợc biết đến nhƣ một doanh nghiệp năng động và họ đòi hỏi năng suất làm việc cao từ nhân viên của mình.
Doanh nghiệp đã tập trung vào sự thoả mãn trong công việc của nhân viên nhƣ một đòn bẩy quan trọng để cung cấp các dịch vụ lấy khách hàng làm trung tâm. Một nghiên cứu kéo dài hai năm với 1.045 nhân viên của Amazon tại Hoa Kỳ cho thấy rằng Amazon vƣợt quá mức trung bình quốc gia về 12 thông số về sự thoả mãn trong công việc, về bình đẳng giới, tính đa dạng và an toàn tại nơi làm việc. Dữ liệu đƣợc phân tích bởi doanh nghiệp đánh giá sử dụng lao động có trụ sở tại Áo, Kununu, và đƣợc báo cáo bởi Observer. Giống nhƣ Amazon, Apple cũng ƣu tiên sự thoả mãn trong công việc của nhân viên là chìa khóa dẫn đến thành công.
Thực tế đã nghiên cứu hàng ngàn đánh giá công việc trên khắp các doanh nghiệp công nghệ U. để phân tích sự thoả mãn của nhân viên. Apple nổi lên nhƣ là ngƣời dẫn đầu về ƣu tiên sự thoả mãn trong công việc của nhân viên, tiếp theo là Tập đoàn GDS, Cisco và Microsoft, theo báo cáo của CNBC. Trả lƣơng tốt, các sản phẩm giảm giá, trợ cấp bảo hiểm và trợ cấp bệnh tật, và văn hóa doanh nghiệp là những lý do chính cho điểm số thoả mãn cao của Apple.
Tầm quan trọng của lý thuyết này tác động đến doanh nghiệp: nhiều nghiên cứu cho thấy, doanh nghiệp sẽ đƣợc hƣởng lợi từ những nhân viên thoả mãn trong công việc khi đó doanh nghiệp chỉ cần phải trả một mức lƣơng vừa đủ so với đóng góp, giá trị họ mang lại cho doanh nghiệp. Năng suất của từng nhân viên phụ thuộc vào sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên đó, nếu nhân viên của bạn thỏa mãn họ sẽ tạo ra hiệu 10 suất chất lƣợng vƣợt trội trong thời gian tối ƣu và dẫn đến lợi nhuận ngày càng tăng. Những nhân viên thỏa mãn cũng có nhiều khả năng sáng tạo, đổi mới và đƣa ra những đột phá cho phép doanh nghiệp phát triển và thay đổi tích cực theo thời gian và điều kiện thị trƣờng thay đổi. Lý thuyết xây dựng thang bậc mức độ thoả mãn trong công việc Thuyết nhu cầu theo thứ bậc của Maslow (1943) Abraham (Harold) Maslow (1908-1970) là một trong những nhà tiên phong ngƣời Mỹ trong trƣờng phái “Tâm lý học nhân văn”.