phần mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giảng dạy tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN” bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Thực trạng công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy tại Trƣờng ĐHKT. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy tại Trƣờng ĐHKT.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm, vai trò công tác đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong các trƣờng đại học 1. Khái niệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy Khái niệm NNL: Thuật ngữ “nguồn nhân lực” (humans resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý, sử dụng con ngƣời trong kinh tế lao động.
Nguồn nhân lực (NNL) là nguồn lực con ngƣời, là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Khái niệm NNL đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau: NNL là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, một địa phƣơng, một ngành, một vùng. Theo cách hiểu này, NNL đƣợc coi là nguồn lực con ngƣời với các yếu tố thể chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Ở nƣớc ta, khái niệm NNL đƣợc sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới.
Điều này đƣợc thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về NNL. Theo giáo sƣ viện sỹ Phạm Minh Hạc, nguồn lực con ngƣời đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng dân cƣ, chất lƣợng con ngƣời (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Phạm Văn Đức thì: “Nguồn lực con ngƣời chỉ khả năng và phẩm chất của lực lƣợng lao động, đó không chỉ là số lƣợng và khả năng chuyên môn mà còn cả trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lƣợng lao động”[17]. Nhƣ vậy, NNL không chỉ bao hàm chất lƣợng NNL hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tƣơng lai, trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo nhƣ Nicolas Herry trong cuốn Public Administration and Public affairss thì: “NNL là nguồn lực con ngƣời của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” [11, Tr. Cách hiểu này về NNL xuất phát từ quan niệm coi NNL là “nguồn lực với các yếu tố thể chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức” [2, Tr. Báo cáo đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với NNL của Liên hợp quốc đã đƣa ra định nghĩa: NNL là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dƣới dạng tiềm năng của con ngƣời. Quan niệm về NNL theo hƣớng tiếp cận này có phần thiên về chất lƣợng của NNL.
Trong quan niệm này, điểm đƣợc đánh giá cao là coi các tiềm năng của con ngƣời cũng là năng lực, khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng. Theo lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế, con ngƣời đƣợc coi là một phƣơng tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trƣởng kinh tế bền vững thậm chí con ngƣời còn đƣợc coi là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển - vốn nhân lực. Về phƣơng diện này Liên Hiệp Quốc cho rằng: nguồn lực con ngƣời là tất cả những kiến thức kỹ năng và năng lực con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội đất nƣớc. Ngày nay, NNL còn bao hàm khía cạnh về số lƣợng và chất lƣợng, không chỉ những ngƣời trong độ tuổi mà cả những ngƣời ngoài độ tuổi lao động.
Tiếp cận dƣới góc độ của Kinh tế Chính trị cho thấy: NNL là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lƣợng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử đƣợc vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của đất nƣớc. Theo ngôn ngữ quản trị, NNL đƣợc hiểu là “tất cả các tiềm năng của con ngƣời trong tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp), tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp”1. Từ các định nghĩa trên, ta thấy “NNL đƣợc hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể; nghĩa là toàn bộ đội ngũ cán bộ, công nhân viên của tổ chức với tƣ cách vừa là khách thể trung tâm của nhà quản trị, vừa là chủ thể hoạt động và là động lực phát triển của các doanh nghiệp nói riêng, của mọi tổ chức nói chung” [8, Tr. Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những nhà khoa học đi trƣớc, trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tác giả thống nhất đề xuất sử dụng khái niệm về NNL nhƣ sau: “NNL trong trường đại học là tổng hợp những con người - bằng khả năng lao động của mình - đã, đang và sẵn sàng đóng góp cho sự phát triển chung của trường đại học đó” [4, Tr.
Khái niệm về NNL giảng dạy: NNL giảng dạy trong các trƣờng đại học đƣợc hiểu là các giảng viên. Định nghĩa giảng viên đƣợc tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Theo Luật Giáo dục đƣợc Quốc hội sƣ̉a đổ i năm 2011 “Nhà giáo là ngƣời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trƣờng, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục là ngƣời làm nhiệm vụ giảng dạy đƣợc gọi là giáo viên, ở cơ sở đại học gọi là giảng viên”.
Ở góc độ vai trò, nhiệm vụ, giảng viên cũng có thể đƣợc hiểu là ngƣời trực tiếp tham gia vào hệ thông giáo dục đại học với vai trò truyền đạt và hƣớng dẫn. Nếu nhìn từ một góc độ khác, cụ thể, dễ hiểu và phổ biến hơn, thì trong các trƣờng đại học, “giảng viên là những ngƣời làm công tác giảng dạy (lý thuyết và thực hành), đƣợc hiệu trƣởng công nhận chức vụ và phân công công tác giảng dạy hoặc những cán bộ khoa học kỹ thuật làm việc trong hay ngoài trƣờng, tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm nhiệm”. Đối với các trƣờng công lập, tác giả đề nghị hiểu NNL giảng dạy là giảng viên, “giảng viên là viên chức chuyên môn đƣợc đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trƣờng đại học và cao đẳng” [1,Tr. 1 Theo http://nqcenter.com ngày 30/11/2007 by nqcenter 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm đào tạo và phát triển NNL: Đào tạo và phát triển NNL là “các hoạt động nhằm duy trì và nâng cao chất lƣợng NNL trong mỗi tổ chức”, đây có thể coi là điều kiện tiên quyết đến sự tồn tại và phát triển mỗi tổ chức, giúp tổ chức có thế đứng vững và thắng lợi trong môi trƣờng cạnh tranh hiện nay.
Có thể nói, đào tạo và phát triển NNL chính là toàn bộ những hoạt động học tập đƣợc tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho ngƣời lao động. Các hoạt động đó có thể đƣợc cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tuỳ vào mục tiêu học tập; và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho ngƣời lao động theo hƣớng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ. Nhƣ vậy, xét về nội dung, tác giả đề nghị hiểu “đào tạo và phát triển NNL bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển”. - Giáo dục: đƣợc hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con ngƣời bƣớc vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tƣơng lai.
- Đào tạo: đƣợc hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho ngƣời lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho ngƣời lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của ngƣời lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. - Phát triển: là các hoạt động học tập vƣợt ra khỏi phạm vi công việc trƣớc mắt của ngƣời lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hƣớng tƣơng lai của tổ chức. Nhƣ vậy chúng ta có thể thấy đào tạo và phát triển NNL đều có một mục tiêu chung đó là trang bị cho ngƣời lao động những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc, tuy nhiên đào tạo NNL là một chiến lƣợc nhằm đào tạo ngƣời lao động trong ngắn hạn, nhằm giúp họ có thể thực hiện tốt công việc hiện tại, còn phát triển NNL là công tác để chuẩn bị cho ngƣời lao động những kiến thức, kỹ năng để có thể đáp ứng những yêu cầu của công việc không chỉ trong hiện tại mà trong cả tƣơng lai.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm về đào tạo và phát triển NNL giảng dạy: Đào tạo và phát triển NNL giảng dạy trong trƣờng đại học có thể đƣợc nhìn nhận từ 2 giác độ. - Từ giác độ của tổ chức: là từ một mảng hoạt động của công tác quản trị NNL của tổ chức nhằm tăng cƣờng và mở rộng năng lực của đội ngũ giảng viên, đáp ứng đòi hỏi của nhà trƣờng. - Từ giác độ cá nhân ngƣời giảng viên đáp ứng đòi hỏi về quá trình phát triển nghề nghiệp của ngƣời giảng viên.