Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Khái quát về đất Đất đai là tài sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng [3].
Vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau [3]: Trong các ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Trong các ngành nông-lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi. Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất. Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, thành tựu kỹ thuật vật chất - văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản - sử dụng đất.
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế xã hội, khi mức sống của con người còn thấp, công năng chủ yếu của đất đai là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp. Điều này có nghĩa đất đai đã cung cấp cho con người tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cần thiết về hưởng thụ và đấp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại. Mục đích sử dụng đất nêu trên được biểu lộ càng rõ nét trong các khu vực kinh tế phát triển. Khái quát về đánh giá đất Đánh giá đất đai là một quá trình nghiên cứu, phân tích tiềm năng đất đai: Đặc điểm, tính chất của mỗi loại đất, khả năng thích hợp của mỗi loại hình sử dụng đất, những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng các loại hình sử dụng đất ấy, từ đó đề xuất quá trình sử dụng đất đai theo hướng hiệu quả cao và bền vững [5].
Căn cứ để tiến hành đánh giá đất: a. Đánh giá đất dựa vào điều kiện tự nhiên Đánh giá đất đai dựa vào điều kiện tự nhiên là: Xác định các mối quan hệ của các yếu tố cấu thành đất, các điều kiện sinh thái đất và các thuộc tính của chúng có tính quy luật ảnh hưởng tới hiệu quả và mục đích của các loại sử dụng đất. Đánh giá đất dựa vào các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. * Đánh giá đất dựa vào hiệu quả kinh tế Đánh giá kinh tế đất là các ước tính thực tế của sự thích nghi về kinh tế ở mỗi đơn vị đất đai theo các chỉ tiêu về kinh tế.
Hệ thống chỉ tiêu kinh tế được bắt nguồn từ bản chất của hiệu quả, đó là mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra. Hay nói cách khác là giữa chi phí và các kết quả thu được từ chi phí đó. Tuỳ theo các hệ thống tính toán mà các chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả sẽ có sự khác nhau. * Đánh giá đất dựa vào hiệu quả xã hội Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về mặt xã hội mà sản xuất mang lại với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra.
Loại hiệu quả này đánh giá chủ yếu về mặt xã hội do hoạt động sản xuất đem lại. - Giá trị sản xuất trên lao động nông lâm nhân khẩu nông lâm) - Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo - Đời sống người lao động, cơ sở hạ tầng. - Mức độ giải quyết việc làm, thu hút lao động. - Sản phẩm tiêu thụ trên thị trường.
n 6 * Đánh giá đất dựa vào hiệu quả môi trường. Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của sinh vật, hoá học, vật lý v., chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường. - Tỷ lệ che phủ - Mức độ xói mòn, rửa trôi - Khả năng bảo vệ, cải tạo đất - Ý thức của người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Khái quát về Sử dụng đất Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người – đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường [6].
Hiệu quả sử dụng đất bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Vì vậy có thể khái quát những điều kiện, nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất gồm 4 nội dung chính sau [6]: * Yếu tố về điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết.) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng. * Yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội: Thị trường là nhân tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường nông dân lựa chọn hàng hoá để sản xuất.
Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra. Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng. n 7 * Yếu tố về kỹ thuật canh tác : Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất.
Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá. * Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức - Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường sẽ tạo tiền đề vững chắc cho phát triển nông nghiệp hàng hoá. Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá. - Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất-dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá. Tổ chức có tác động lớn đến hàng hoá của hộ nông dân là: tổ chức dịch vụ đầu vào và đầu ra. n 8 - Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm.
Khái quát về nông thôn mới Cho đến nay, chưa có một định nghĩa chuẩn xác được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn. Khi nói về nông thôn, thường thì người ta hay so sánh nông thôn với thành thị. Nông thôn và đô thị là những vùng lãnh thổ có những nét nổi bật cơ bản ở chỗ cả hai không có ranh giới rõ rệt, nhưng cả hai đều có mối liên hệ khít với nhau. Các khu vực nông thôn luôn gắn với trung tâm của nó – đó là những vùng đô thị, hay chí ít ra cũng mang những nét căn bản của đô thị.
Trong lòng các vùng nông thôn luôn tồn tại một trung tâm như thế. Vì thế, nảy sinh vấn đề là cần định nghĩa xem đâu là nông thôn, đâu là đô thị, đồng nghĩa với việc xác định đâu thuộc về vùng nông thôn và đâu thuộc về vùng đô thị, khi đó cần chú ý tới sự giáp ranh giữa 2 khu vực này. Trong thực tế phát triển xã hội giữa nông thôn và đô thị có một vùng “mở” pha tạp giữa nông thôn và đô thị, đó là vùng đô thị hóa và vùng ven đô [7]. Như vậy theo ý kiến phân tích của các nhà xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về nông thôn như sau: Nông thôn là vùng khác với đô thị ở chỗ là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và hàng hóa thấp hơn [7].