Tổng quan nghiên cứu

Trên phạm vi toàn quốc, lượng chất thải nguy hại phát sinh hàng năm ước tính đạt khoảng 800.000 tấn, tạo ra thách thức lớn đối với hạ tầng kỹ thuật và công tác quản lý tài nguyên. Tại tỉnh Phú Thọ, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2018, toàn tỉnh đã ghi nhận 3.680 cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh từ các khu và cụm công nghiệp dao động từ 94,8 đến 121,95 tấn mỗi ngày đêm. Đáng chú ý, thành phần chất thải nguy hại chiếm khoảng 10% đến 15% tổng lượng rác thải công nghiệp, tương đương từ 9,48 đến 18,3 tấn mỗi ngày đêm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm bắt nguồn từ thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng của một tỉnh trung du miền núi, nơi sở hữu 3 vùng sinh thái đa dạng gồm đồng bằng, trung du và vùng núi. Nhiều nhà máy trên địa bàn vẫn duy trì hệ thống máy móc cũ, công nghệ lạc hậu, gây tiêu tốn nguyên nhiên liệu và phát sinh lượng lớn chất thải độc hại. Sự tập trung không đồng đều của 1.952 doanh nghiệp tại thành phố Việt Trì cùng các cơ sở tiểu thủ công nghiệp xen kẽ trong khu dân cư đang đặt ra nguy cơ suy thoái môi trường cục bộ nghiêm trọng.

Mục tiêu cụ thể của công trình là đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; xác định mức độ nhận thức pháp luật của các chủ nguồn thải; dự báo khối lượng phát sinh đến năm 2025; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và năng lực xử lý tại nguồn.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 13 huyện, thành, thị của tỉnh Phú Thọ, dựa trên chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2015-2018 và hoạt động điều tra sơ cấp thực địa được triển khai từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để địa phương hướng tới mục tiêu thu gom, xử lý triệt để 100% chất thải nguy hại y tế và trên 85% chất thải nguy hại công nghiệp theo Chiến lược quốc gia quản lý tổng hợp chất thải rắn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Quản lý chất thải rắn tích hợp kết hợp với Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và mô hình Kinh tế tuần hoàn trong kiểm soát dòng vật chất. Hệ thống lý luận tập trung vào 3 khái niệm cốt lõi theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 và Nghị định số 38/2015/NĐ-CP: chất thải, chất thải nguy hại và chu trình quản lý chất thải bao gồm phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy an toàn.

Hệ thống phân loại kỹ thuật được xây dựng dựa trên Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 6706:2009 với 7 nhóm đặc tính nguy hại tương thích Công ước Basel, bao gồm: chất thải dễ cháy, gây ăn mòn, dễ nổ, dễ bị oxy hóa, gây độc cho người và sinh vật, độc hại cho hệ sinh thái và chất thải lây nhiễm. Danh mục phân loại theo nguồn thải được chuẩn hóa qua 19 nhóm chính quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ngoài ra, các tiêu chí đánh giá kỹ thuật chôn lấp và ngưỡng an toàn dựa trên tiêu chuẩn TCXDVN 320:2004 cùng quy chuẩn QCVN 07:2009/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài kết hợp chặt chẽ giữa thông tin thứ cấp và dữ liệu điều tra sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo hiện trạng môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ, số liệu niên giám của Cục Thống kê tỉnh giai đoạn 2015-2018, cùng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Dữ liệu sơ cấp được thực hiện qua phương pháp điều tra bảng hỏi trực tiếp với cỡ mẫu là 70 đơn vị đại diện. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật ngẫu nhiên phân tầng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm đối tượng phát sinh chất thải nguy hại trọng điểm, bao gồm 50 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, 15 cơ sở y tế khám chữa bệnh và 5 cơ sở làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Phương pháp phân tích số liệu kết hợp thống kê mô tả, phân tích so sánh và mô hình toán phát thải theo hệ số của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ. Lý do lựa chọn mô hình này vì nó cho phép tính toán định lượng chính xác khối lượng chất thải dựa trên sản lượng công nghiệp, số giường bệnh y tế và tốc độ tăng trưởng dân số, tạo độ tin cậy cao cho kịch bản dự báo tải lượng chất thải nguy hại phát sinh đến năm 2025. Toàn bộ quá trình nghiên cứu, xử lý số liệu và tổng hợp kết quả được hoàn thành trong khung thời gian từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại 3 khu công nghiệp với 124 dự án và 16 cụm công nghiệp với 116 dự án đang hoạt động đạt mức 94,8 đến 121,95 tấn mỗi ngày đêm. Trong đó, lượng chất thải nguy hại chiếm từ 9,48 đến 18,3 tấn mỗi ngày. Khi các khu công nghiệp và cụm công nghiệp được lấp đầy toàn bộ diện tích theo quy hoạch là 3.177 ha, lượng rác thải công nghiệp phát sinh tối đa dự báo có thể lên tới 743,65 tấn mỗi ngày đêm.

Phân bố cơ sở phát sinh chất thải thể hiện sự chênh lệch rõ rệt theo địa giới hành chính. Thành phố Việt Trì chiếm tỷ trọng cao nhất với 1.952 doanh nghiệp trên tổng số 3.680 cơ sở toàn tỉnh, tương đương 53,04%. Tiếp theo là huyện Phù Ninh với 299 doanh nghiệp (chiếm 8,13%) và huyện Lâm Thao với 250 doanh nghiệp (chiếm 6,79%). Ngược lại, huyện vùng cao Tân Sơn chỉ có 39 cơ sở, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 1,06%.

Kết quả khảo sát 70 cơ sở cho thấy công tác chấp hành thủ tục hành chính môi trường chưa đồng đều. Trong khi các doanh nghiệp quy mô lớn đã hoàn tất cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải, vẫn còn khoảng 35% đến 40% doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các cơ sở làng nghề chưa thực hiện phân loại triệt để chất thải nguy hại tại nguồn hoặc để lẫn vào chất thải sinh hoạt thông thường.

Tại khối cơ sở y tế, công tác quản lý đạt kết quả khả quan hơn khi trên 85% bệnh viện và trung tâm y tế đã ký hợp đồng chuyển giao hoặc xử lý chất thải y tế nguy hại bằng hệ thống lò đốt tĩnh hai cấp chuyên dụng đạt quy chuẩn QCVN 02:2008/BTNMT.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân tán và khó kiểm soát chất thải nguy hại xuất phát từ cơ cấu doanh nghiệp địa phương chủ yếu là quy mô vừa và nhỏ. Do tiềm lực vốn hạn chế, các đơn vị này khó tiếp cận công nghệ sản xuất sạch hơn, dẫn đến hệ số phát thải trên một đơn vị sản phẩm cao hơn mức trung bình của ngành. Thêm vào đó, việc thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật thu gom tập trung tại các cụm công nghiệp ngoại thành làm tăng chi phí vận chuyển chất thải độc hại.

Để trực quan hóa các dữ liệu phức tạp, kết quả nghiên cứu đã được hệ thống hóa qua bảng thống kê diện tích và lượng chất thải của 7 khu công nghiệp và 22 cụm công nghiệp, biểu đồ cột so sánh sự gia tăng số lượng doanh nghiệp giai đoạn 2005-2018, cùng sơ đồ chuỗi luân chuyển dòng thải từ nguồn phát sinh đến khâu tiêu hủy.

So với bức tranh quản lý chất thải toàn quốc với tỷ lệ thu gom xử lý đạt chuẩn chỉ khoảng 40%, tỉnh Phú Thọ đã có những bước tiến đáng ghi nhận ở khối doanh nghiệp lớn và ngành y tế. Tuy nhiên, nếu so sánh với các quốc gia phát triển như Đức hay Pháp, nơi tỷ lệ tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải nguy hại đạt trên 50%, công tác xử lý tại Phú Thọ vẫn phụ thuộc phần lớn vào công nghệ thiêu đốt hai cấp hoặc lưu giữ đóng kén tạm thời, chưa tận dụng được giá trị tài nguyên của các dòng phế thải công nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường hiệu lực thanh tra, giám sát và hoàn thiện cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ chủ trì phối hợp cùng Ban Quản lý các Khu công nghiệp tổ chức rà soát thường niên, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo Nghị định số 155/2016/NĐ-CP. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ cấp sổ chủ nguồn thải đạt 100% đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp và trên 90% đối với các cơ sở ngoài khu công nghiệp trong giai đoạn 2020-2022.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình phân loại, lưu giữ và dán nhãn chất thải nguy hại tại nguồn. Các chủ doanh nghiệp, ban quản lý bệnh viện và hộ sản xuất làng nghề phải đầu tư xây dựng kho lưu giữ chuyên biệt đạt chuẩn TCVN 6707:2009, bố trí bao bì chứa chuyên dụng có mã nhận diện chất thải nguy hại và trang bị đầy đủ vật liệu thấm hút sự cố tràn đổ. Chỉ tiêu đặt ra là đạt tỷ lệ 95% chất thải nguy hại được phân loại chính xác trước khi chuyển giao vận chuyển trong khung thời gian 2021-2023.

Thứ ba, đẩy mạnh đầu tư công nghệ xử lý tiên tiến và mở rộng mô hình đồng xử lý. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cần ban hành chính sách ưu đãi tài chính theo Thông tư số 121/2008/TT-BTC nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư công nghệ lò đốt quay, bể đóng kén bê tông chống thấm và tái chế dầu thải. Đồng thời, thúc đẩy hợp tác đồng xử lý chất thải công nghiệp trong lò nung xi măng theo QCVN 41:2011/BTNMT để nâng công suất xử lý đạt chuẩn lên tối thiểu 30 tấn mỗi ngày đêm, giảm 50% lượng rác chôn lấp trước năm 2025.

Thứ tư, triển khai các chương trình tập huấn nâng cao nhận thức và năng lực kỹ thuật. Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh mở các lớp đào tạo chuyên sâu về kỹ năng nhận biết hóa chất nguy hại, lập báo cáo quản lý định kỳ và vận hành an toàn cho cán bộ phụ trách môi trường. Mục tiêu tiếp cận tối thiểu 1.500 lượt cán bộ quản lý và kỹ thuật viên từ năm 2020 đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường: Các cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường và Phòng Tài nguyên Môi trường cấp huyện có thể khai thác bộ cơ sở dữ liệu kiểm kê 3.680 cơ sở và mô hình dự báo phát thải đến năm 2025 để xây dựng quy hoạch tổng thể quản lý chất thải rắn, đồng thời hoàn thiện quy chế thanh tra bảo vệ môi trường địa phương.

Ban quản lý các khu, cụm công nghiệp và doanh nghiệp sản xuất: Các nhà quản lý vận hành khu công nghiệp và giám đốc nhà máy có thể áp dụng trực tiếp các hướng dẫn phân loại chất thải theo Thông tư 36/2015/TT-BTNMT, thiết kế khu lưu chứa nội bộ đúng chuẩn kỹ thuật nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý và tối ưu hóa chi phí xử lý môi trường.

Các công ty cung ứng dịch vụ môi trường và xử lý chất thải: Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển và vận hành nhà máy xử lý chất thải nguy hại có thể sử dụng các số liệu dự báo cung cầu để hoạch định chiến lược đầu tư mở rộng công suất lò đốt tĩnh, lò quay hoặc hệ thống tái chế ắc quy chì và dầu nhớt thải.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường: Tài liệu là nguồn tham khảo học thuật giá trị về phương pháp luận chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng 70 cơ sở, kỹ thuật ứng dụng hệ số phát thải công nghiệp của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ và cấu trúc xây dựng đề tài nghiên cứu môi trường ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

Chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ phát sinh chủ yếu từ những nguồn nào? Nguồn phát sinh chính đến từ hoạt động sản xuất công nghiệp tại 3 khu công nghiệp và 16 cụm công nghiệp với khối lượng dao động từ 9,48 đến 18,3 tấn mỗi ngày đêm. Ngoài ra, chất thải y tế nguy hại từ hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh và dầu mỡ, hóa chất từ các làng nghề cơ khí cũng đóng góp một phần đáng kể vào tổng lượng phát sinh.

Tại sao tỷ lệ đăng ký chủ nguồn thải tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Phú Thọ còn thấp? Phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn về nguồn vốn đầu tư và sử dụng trang thiết bị máy móc cũ. Bên cạnh đó, nhận thức của người đứng đầu cơ sở về các quy định pháp luật trong Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT còn hạn chế, dẫn đến việc e ngại phát sinh chi phí kê khai và hợp đồng xử lý chất thải định kỳ.

Công nghệ xử lý chất thải nguy hại nào đang chiếm ưu thế tại Việt Nam và Phú Thọ? Công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp với nhiệt độ buồng thứ cấp trên 1.100 độ C và phương pháp hóa rắn bằng xi măng là hai giải pháp phổ biến nhất. Các công nghệ này có chi phí lắp đặt hợp lý, dễ vận hành và xử lý hiệu quả nhiều nhóm chất thải đa dạng như rác y tế, bùn thải và tro xỉ vô cơ.

Hệ thống căn cứ pháp lý chính được áp dụng để đánh giá công tác quản lý chất thải nguy hại trong luận văn gồm những gì? Luận văn dựa trên các văn bản cốt lõi gồm Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính và tiêu chuẩn phân loại TCVN 6706:2009.

Khối lượng rác thải công nghiệp tại Phú Thọ được dự báo sẽ tăng trưởng như thế nào đến năm 2025? Dựa trên mô hình tính toán theo hệ số phát thải, khi 2.165 ha khu công nghiệp và 1.012 ha cụm công nghiệp được lấp đầy hoàn toàn theo quy hoạch, tổng lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh lớn nhất có thể đạt 743,65 tấn mỗi ngày đêm, kéo theo lượng chất thải nguy hại tăng gấp 2 đến 3 lần so với mốc năm 2018.

Kết luận

Thứ nhất, công trình đã kiểm kê toàn diện mạng lưới 3.680 cơ sở sản xuất kinh doanh tại Phú Thọ, định lượng khối lượng chất thải nguy hại công nghiệp phát sinh từ 9,48 đến 18,3 tấn mỗi ngày đêm tại các khu và cụm công nghiệp.

Thứ hai, nghiên cứu chỉ ra sự mất cân đối rõ rệt trong không gian phát thải khi thành phố Việt Trì tập trung tới 53,04% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh, đồng thời đánh giá chính xác khoảng trống quản lý tại các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ qua 70 mẫu điều tra thực tế.

Thứ ba, luận văn thiết lập mô hình dự báo khoa học, cảnh báo nguy cơ quá tải hạ tầng môi trường khi lượng rác thải công nghiệp có thể chạm mốc 743,65 tấn mỗi ngày đêm vào năm 2025.

Thứ tư, đề tài đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa chế tài quản lý nhà nước, kỹ thuật phân loại tại nguồn, ưu đãi công nghệ đồng xử lý trong lò nung xi măng và công tác đào tạo nhân lực.

Thứ năm, lộ trình thực hiện từ năm 2020 đến năm 2025 định hướng rõ ràng mục tiêu kiểm soát an toàn 100% dòng thải nguy hại, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của địa phương.

Các cơ quan quản lý, ban lãnh đạo doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác các luận cứ và số liệu chi tiết trong công trình để ứng dụng vào công tác hoạch định chính sách và nâng cao năng lực bảo vệ môi trường thực tiễn.