CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát chung về đô thị và đô thị hóa 1.Khái niệm, phân loại và chức năng của đô thị 1. Khái niệm đô thị Đô thị là khu vực tập trung đông dân cư sinh sống và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, du lịch và dịch vụ của cả nước hay một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong huyện, trong tỉnh. Về việc phân loại đô thị và cấp quản lí đô thị thì đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản sau: - Chức năng đô thị là trung tâm tổng họp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định; - Quy mô dân số ít nhất là 4.000 người trở lên; - Mật độ dân số phù họp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn; - Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động; - Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kĩ thuật; - Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị; - Hạn chế tối đa việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn phải được đầu tư xây dựng đồng bộ; phải bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái; - Kiến trúc, cảnh quan đô thị: Thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lí kiến trúc đô thị.
Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên m 4 60% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân, có các tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc tế và quốc gia. Trong thực tế, một đô thị là trung tâm tổng hợp của một hệ thống đô thị vùng tỉnh nhưng cũng có thể chỉ là trung tâm chuyên ngành của một hệ thống đô thị một vùng liên tỉnh hoặc cả nước. Việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định. Vùng lãnh thổ của đô thị bao gồm nội thành hay nội thị và ngoại ô hay ngoại thị.
Các đơn vị hành chính của nội thị bao gồm quận và phường, còn các đơn vị hành chính ngoại ô bao gồm huyện và xã. Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp quản lý của đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như đô thị trung tâm quốc gia, đô thị trung tâm cấp vùng (liên tỉnh), đô thị trung tâm cấp tỉnh, đô thị trung tâm cấp huyện và đô thị trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện). Phân loại đô thị Theo Nghị định số 42/2009/NĐ – CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị, đô thị được chia thành 6 loại sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận. Đô thị loại đặc biệt Là một thủ đô hoặc đô thị rất lớn, có chức năng là trung tâm chính trị, kinh doanh, văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu quốc gia và quốc tế, có chức năng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 90% trở lên; cơ bản có kết cấu hạ tầng kỹ thuật số hoàn chỉnh, đồng bộ; quy mô dân số từ 5 triệu người trở lên; mật độ dân số bình quân từ 15000 người/km2 trở lên.
Đô thị loại I Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước. m 5 - Quy mô dân số từ 500000 người trở lên; - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 85% tổng số lao động của khu vực; - Mật độ dân cư bình quân từ 12000 người/km2 trở lên. Đô thị loại I này có tỷ suất hàng hoá cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh. Đô thị loại II Là một đô thị lớn, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, du lịch, dịch vụ, trung tâm giao thông vận tải vùng trong liên bang, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, góp phần thúc đẩy phát triển đô thị.
Thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số vùng cho cả nước. Quy mô dân số 300.000 người trở lên, tỷ lệ việc làm phi nông nghiệp ≥ 80% tổng số lao động, mật độ dân số bình quân 8.000 người/ km2 trở lên, sản xuất hàng hóa phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được xây dựng và mạng lưới công trình công cộng nhiều mặt, tương đối đồng bộ và toàn diện. Đô thi loại III Đô thị loại vừa, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ, dịch vụ, giao thông vận tải của tỉnh hoặc khu công nghiệp, dịch vụ tập trung có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một hoặc một số vùng liên tỉnh. Quy mô dân số 150.000 người trở lên, tỷ lệ việc làm phi nông nghiệp ≥ 75% tổng số lao động, mật độ dân số bình quân 6.000 người/ km2 trở lên.
Hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng sẽ được xây dựng đồng bộ, xuyên suốt hai bên. Đô thi loại IV Đô thị nhỏ và vừa là trung tâm tổng hợp chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ, dịch vụ, trung tâm giao thông, giao lưu của tỉnh hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Công thương có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh, một vùng của tỉnh. Dân số từ 50.000 người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 70% tổng số lao động.
Mật độ dân số từ 4000 người/ km2 trở lên, các khu đô thị này đã được xây dựng đồng bộ, hoàn thiện về hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng. Đô thị loại V Đô thị loại nhỏ, là trung tâm tổng hợp về chính trị, kinh tế, văn hoá và dịch vụ hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp… có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một huyện hoặc một cụm xã. Quy mô dân số từ 4000 người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥ 65% trong tổng số lao động. Mật độ dân số bình quân từ 2000 người/km2 trở lên, đang bắt đầu xây dựng mới một số công trình công cộng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Chức năng của đô thị Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển mà đô thị sẽ có các chức năng khác nhau, nhìn chung đô thị có những chức năng chính sau: * Chức năng kinh tế: Đây là chức năng chính của thành phố. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã kéo theo sự tập trung sản xuất. Do đó, các loại hình kinh doanh đã tập trung vào các khu công nghiệp và phát triển. Mở rộng và đa dạng hóa thị trường.
Quá trình tập trung sản xuất khiến dân cư tập trung vào người lao động và gia đình, họ hàng của họ, những người chiếm một bộ phận quan trọng trong dân cư thành thị. * Chức năng xã hội: Cùng với sự gia tăng dân số nhanh chóng ở các đô thị, các chức năng xã hội ngày càng trở nên sâu rộng hơn. Khi nền kinh tế phát triển kết hợp với cơ chế thị trường thì nhu cầu về nhà ở, kinh tế, y tế, giao thông… Do nhu cầu của dân cư và nhu cầu đô thị đều tăng nên các chức năng xã hội ngày càng trở nên nặng nề hơn. * Chức năng văn hóa: Khi không gian đô thị phát triển, nhu cầu về giáo dục và giải trí của con người sẽ tăng lên.
Vì vậy, luôn cần có hệ thống trường học, khu du lịch, trung tâm tại các khu đô thị. Nghiên cứu khoa học hoặc bảo tàng để đáp ứng nhu cầu một cách nhanh chóng. quan trọng nhất đối với sự phát triển của đất nước nói chung và phát triển đô thị nói riêng. * Chức năng quản lý: Tác dụng chính của quản lý là hướng các nguồn lực vào các mục tiêu kinh tế, xã hội, kiến trúc và môi trường, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc và thoả mãn cả nhu cầu công cộng và ý nghĩa quan trọng.
Quan tâm đến nhu cầu m 7 chính đáng của mọi người. Do đó, chính quyền địa phương phải có các quy định và luật lệ liên quan đến chính quyền thành phố. Vai trò của đô thị trong phát triển kinh tế - xã hội Các đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hóa của xã hội; nó là sản phẩm của di sản của nhiều thế hệ kể cả về vật chất lẫn kỹ thuật và văn hóa. Các thành phố là một bộ phận của nền kinh tế và có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.
Điều kiện phát triển thương mại và sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá. Các thành phố tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng, máy móc và nguồn nhân lực thông qua các phương tiện giao thông nhanh chóng, rẻ tiền và tạo ra một thị trường linh hoạt với năng suất lao động cao. Các đô thị cũng là nơi thuận lợi để phân phối sản phẩm với sự phát triển của mạng lưới giao thông và sự phân bổ nguồn nhân lực đến các đô thị.