CHƯƠNG 1: TổNG QUAN TÀI LIệU 1. Cơ sở pháp lý, lý luận 1. Cơ sở pháp lý - Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 về quy hoạch xây dựng; - Nghị định 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ sửa đổi Nghị định 143/2003/NĐ-CP quy định về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; - Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005; - Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005; - Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005; - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; - Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; - Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính Phủ về Quy định xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; - Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/04/2011 của Chính phủ về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; - Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 08/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết một số điều nghị định 29/2011/NĐ – CP của Chính phủ ngày 18/04/2011 về đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường; n 5 - Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại; - Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường về việc “Bắt buộc áp dụng quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam về Môi trường”; - Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 21/06/2012; - Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước; - Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM, văn bản xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường của Khu Công nghiệp Phố Nối A. Khái niệm mạ nhúng nóng Mạ nhúng nóng là một trong những công nghệ bề mặt bằng phương pháp phủ lên bề mặt kim loại một lớp kẽm mỏng bằng cách nhúng kim loại bảo vệ đã qua xử lý bề mặt vào một bể chứa kẽm nóng chảy.
Mạ nhúng nóng còn được gọi là mạ kẽm [1]. Trong tất cả các kỹ thuật tạo bề mặt phổ biến cho thép thì mạ kẽm là phương pháp tạo bề mặt chống gỉ tốt nhất. Trong quá trình mạ kẽm kim loại được nấu thành hợp kim với chất nền. Vì thế lớp kẽm mạ sẽ không bị tróc ra như khi dùng sơn tạo ra lớp bảo vệ vĩnh cửu cho chất nền.
Khái niệm nước thải công nghiệp và nguồn tiếp nhận - Theo QC40: 2011/BTNMT Nước thải công nghiệp là nước thải phát sinh từ quá trình công nghệ của cơ sở sản xuất, dịch vụ công nghiệp (sau đây gọi chung là cơ sở công nghiệp), từ nhà máy xử lý nước thải tập trung có đấu nối nước thải của cơ sở công nghiệp[13]. n 6 - Nguồn tiếp nhận nước thải là: hệ thống thoát nước đô thị, khu dân cư; sông, suối, khe, rạch; kênh, mương; hồ, ao, đầm; vùng nước biển ven bờ có mục đích sử dụng xác định[13]. Khái niệm chất keo tụ Keo kị nước là hạt keo không kết hợp với các phần tử nước của môi trường để tạo vỏ bọc hydrat, các hạt keo riêng biệt mang diện tích lớn và khi điện tích này được trung hòa thì độ bền của hạt keo bị phá vỡ. Quá trình thủy phân các chất như phèn nhôm, phèn sắt trong nước làm cho các phần tử mới hình thành liên kết lại với nhau tạo thành các khối bông phèn đồng nhất.
Ví dụ như ta dùng phèn sắt, sau khi thủy phân sẽ tạo ra các khối liên kết nhiều phần tử Fe(OH)3, Nhờ có diện tích bề mặt lớn, các bông phèn hấp phụ chọn lọc một số loại ion nào đó hoặc có trong thành phần các ion của bông phèn, tạo thành các vỏ bọc ion. Lớp vỏ ion này cùng với khối phân tử bên trong tạo thành hạt keo. Bề mặt nhân keo mang điện tích của lớp ion gắn trên đó, có khả năng hút một số ion tự do mang điện tích trái dấu để bù lại một phần điện tích [6]. Keo háo nước là có khả năng kết hợp với phần tử nước tạo thành vỏ bọc hydrat, các hạt keo riêng biệt mang điện tích bé và dưới tác dụng của các chất điện phân không bị keo tụ[6].
Ngoài ra người ta phân loại theo các dạng như sau: - Keo phân tử là những phần tử lớn (polyme) tạo thành hạt keo. - Keo phân tán gồm nhiều phần tử phân tán(cát, đất sét) tạo thành hạt keo. - Keo liên kết gồm nhiều phần tử khác nhau liên kết với nhau tạo thành hạt keo. - Keo kỵ nước không tan, phân chia thành các hạt nhỏ, không ngậm dầu nước.
d, Khái niệm các loại thép Thép là hợp kim của sắt chứa từ 0,2 đến 1,7% C, dưới 0,8% S, P và Mn và dưới 0,5% Si. Thép tuy cứng nhưng dẻo hơn Gang, dễ rèn và dễ cán kéo. Khi n 7 được làm nguội nhanh(tôi thép), trở nên rất cứng và khi được làm nguội chậm thép trở nên mềm hơn. Có hai loại thép chính là thép Các bon và thép hợp kim.
- Thép Cácbon được chia thành thép mềm, thép trung và thép cao. Thép mềm chứa 0,2% C, dùng để làm vỏ xe ô tô, thép sợi, ống, đinh bulông. Thép trung chứa 0,3 đến 0,6% C dùng làm dầm và sàn nhà, lò xo. Thép C cao chứa 0,6 đến 1,7% C dùng làm dao, kéo, búa, đục, khoan.
- Thép hợp kim hay còn gọi là thép đặc biệt, ngoài những tạp chất có sẵn trong thép C còn chứa 1 lượng lớn của 1 hay 1 số kim loại được đưa thêm vào như Al, Cr, Co, Mo, Ni, Mn, Ti,W,V, kim loại đất hiếm. Kim loại cho thêm này truyền cho thép những tính chất đặc biệt. Ví dụ như thép Crôm-Niken cứng, chịu nhiệt và không rỉ. Thép Crôm-molipden và thép Crôm- vanadi đều cứng, bền ở nhiệt độ cao và áp suất cao dùng làm chi tiết của máy bay và máy nén.
Thép Vônfram cứng, dai và chịu nhiệt, dùng làm dụng cụ cắt gọt. Thép silic dùng làm thiết bị điện như môtơ, máy phát, biến thế. Đặc điểm của ngành mạ nhúng nóng trên thế giới và Việt Nam 1. Lịch sử hình thành công nghệ mạ nhúng nóng Năm 1742 khi một nhà hoá học người Pháp tên là Melouin, trong một lần trình bày tại Viện hàn lâm Pháp, đã miêu tả phương án bảo vệ bề mặt chi tiết sắt thép bằng cách nhúng nó vào bể kẽm nóng chảy.
Năm 1836, Sorel là một nhà hoá học người Pháp đã nhận bằng sáng chế về phương pháp bảo vệ bề mặt sắt thép bởi lớp phủ kẽm bằng cách nhúng chi tiết vào bể kẽm nóng chảy sau khi đã xử lý bề mặt chi tiết bởi axit sulfuric 9% và nhúng qua Amonium Chloride. Một bằng sáng chế khác của nước Anh cũng đã được công nhận vào năm 1837 [1]. Từ năm 1850, mỗi năm nền công nghiệp mạ nhúng kẽm nóng ở Anh dùng 10.000 tấn kẽm cho việc bảo vệ sắt thép. Mạ nhúng kẽm nóng để bảo về n 8 bề mặt sắt thép đã được ứng dụng rộng rãi hầu hết trong mọi ngành của nền kinh tế như truyền tải điện, giao thông vận tải, nhà máy giấy, nhà máy hoá chất.
Hơn 150 năm qua, mạ nhúng kẽm nóng đã chứng tỏ có một lịch sử thành công trong thương mại như một phương pháp chống ăn mòn trong vô số các ứng dụng khắp thế giới. Ngày nay, công nghệ mạ được áp dụng máy móc tự động hóa kết hợp quy trình sản xuất sạch hơn trong ngành mạ kẽm nhúng nóng. Công nghệ mạ kẽm phát triển hơn trong sự cải tiến lớp mạ: khi có sự ngắt quãng hoặc hư hại ở lớp kẽm, bảo vệ Cathode sẽ hoạt động và đảm bảo rằng thép không bị ăn mòn. Phần lớn các lớp phủ hữu cơ hoặc lớp sơn phụ thuộc vào khả năng chống thấm của nó, và trong vài trường hợp, là các sắc tố chống ăn mòn để bảo vệ thép khỏi sự gỉ sét.
Các lớp này cung cấp rất ít hoặc không có sự bảo vệ thép bên trong khi có sự ngắt quảng hoặc hư hại trên lớp bảo vệ này. Do đó, sự ăn mòn bắt đầu hình thành và nhanh chóng lan rộng ra bên dưới lớp phủ. Không có phần thép nào bị oxi hóa cho đến khi phần kẽm mạ cuối cùng bị oxi hóa hết[3]. Giá trị của mạ nhúng nóng Dùng lớp phủ bảo vệ (hay gọi là bảo vệ rào chắn) để cách ly bề mặt kim loại tiếp xúc với chất điện dung trong môi trường ngoài là phương pháp cổ xưa nhất và được ứng dụng rộng rãi nhất trong việc bảo vệ chống ăn mòn.
Hai thuộc tích quan trọng nhất của lớp bảo vệ rào chắn là sự bám dính vào bề mặt kim loại nền và độ bền của lớp 2 phủ. Sơn là một ví dụ điển hình về lớp bảo vệ rào chắn. Bảo vệ cathode là một phương pháp quan trọng để tránh ăn mòn, bản chất của bảo vệ cathode là làm thay đổi phần tử của mạch ăn mòn, tạo nền một phần tử của mạch ăn mòn mới và đảm bảo rằng kim loại nền trở thành phần tử cathode của mạch này. Mạ nhúng kẽm nóng là phương pháp đồng thời cung cấp được hai phương pháp bảo vệ chống ăn mòn đó là bảo vệ rào chắn và bảo vệ cathode.
n 9 Từ lâu, kẽm đã được sử dụng để tạo lớp bảo vệ do tính chất của kim loại này (tốc độ ăn mòn của Zn từ 40-50g/m2/năm so với 400-500g/m2/năm của thép, với lại Zn mang điện thế + so với Fe trong quá trình ăn mòn điện hoá…), về nguyên tắc dù được tạo bằng phương pháp nào: Mạ điện phân, mạ nhúng nóng, mạ phun thì yếu tố quyết định đến tuổi thọ lớp Zn bảo vệ là độ dày lớp Zn được phủ [3]. Với những đặc tính ưu việt về lớp phủ bề mặt bảo vệ, Mạ nhúng nóng đang cho thấy nững giá trị hữu dụng.