Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp 1. Khái niệm về đất, đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, kinh tế, xã hội và quốc phòng an ninh Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái. Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất.
Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do các hoạt động của con người (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998). Theo Luật đất đai mới nhất của Việt Nam năm 2003, cũng như Luật đất đai năm 2013 đã phân đất đai thành 3 loại sau: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Theo luật đất đai năm 2013 cũng quy định cụ thể có 3 loại đất: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Đất đai có vị trí cố định trong không gian và có chất lượng không đồng nhất giữa các vùng, miền.
Mỗi vùng đất luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động, giao thông, thị trường). Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần bố trí sử dụng đất hợp lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng. Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế, nếu được bố trí sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho từng loại cây trồng cụ thể. Hiện nay tổng diện tích đất trên thế giới 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha n 4 đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng.
Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy. Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1. Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70% tổng diện tích đất tự nhiên; ở các nước đang phát triển là 36% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất nâu chỉ chiếm 12,6%; những loại đất quá xấu như đất vùng tuyết, băng, hoang mạc, đất núi, đất cao nguyên chiếm đến 40,5%; còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng.
Với diện tích đất có thể canh tác ấy của thế giới so với nhu cầu ngày càng tăng về lương thực thực phẩm của con người thì chưa đủ. Dựa vào báo cáo của World Bank trong năm 1995, hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực, thực phẩm vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn (Sam fusiska, 1996). Hơn nữa theo nguồn tin từ hai tổ chức OCED và FAO, thì tiêu dùng lương thực tính theo đầu người sẽ tăng trong vòng 10 năm tới nhờ việc tăng thu nhập và giao thương phát triển. Trước áp lực từ sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, sự phát triển của xã hội làm cho nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng làm giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
Vì vậy, định hướng sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả và bền vững là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia. Đặc biệt đối với nền nông nghiệp ở nước ta hiện thì không thể thiếu được. Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại chủ yếu là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.
Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%. n 5 Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12000m2. Trong đó ở Mỹ 2000m2, ở Bungari 7000m2, ở Nhật Bản 650m2.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường. Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng.
Trong điều kiện hầu hết đất canh tác đều bị nghèo về độ phì, để tăng vụ và năng suất cây trồng đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón. Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993), cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người. Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất. Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng N, P, K, Ca và Mg.
Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993). Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu. Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã góp phần gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường.S chỉ ra rằng “sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hoá về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường”.
Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hoá đất ở một số nước vùng nhiệt đới châu Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của n 6 Trung tâm Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam Châu Á đã tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P, K của hầu hết các hệ sinh thái đều bị suy giảm. Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự thất thoát dinh dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống. Theo tài liệu của FAO/UNESCO (1992): trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7%, do gió 28%, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2%.
Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy. Ở Ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu ha đất trồng trọt. Theo kết quả điều tra của FAO (1993), do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất dốc. Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu Úc, Châu Phi: 5 -10 tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu Á: 30 tấn/ha.
Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 1. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp Mỗi quốc gia có một quỹ đất khác nhau, và quỹ đất này có hạn do vậy khi sử dụng đất phải đảm bảo tính hiệu quả, bền vững và phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định. Tại điều 11 Luật Đất đai 2003 có 3 nguyên tắc phải đảm bảo khi sử dụng đất: (1) Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; (2) Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; (3) Người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Theo Luật đất đai năm 2013 đối với đất Nông nghiệp thì hạn mức giao đất giao đất nông nghiệp được qui định tại điều 129, hạn mức nhận chuyển nhượng qui định tại điều 130, điều kiện hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng đất n 7 nông nghiệp qui định tại điều 131, điều 132 qui định chi tiết việc sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích công ích, điều 134 qui định nhà nước có chính sách bảo vệ đất trồng lúa, hạn chế chuyển quyền sử dụng đất trồng lúa sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp khác.
Đối với đất nông nghiệp ngoài 3 nguyên tắc trên khi sử dụng đất cần thêm nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý, hiệu quả và bền vững”, và phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, của từng địa phương để làm cơ sở cho việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả về cả mặt kinh tế, xã hội, môi trường.