MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tỉnh Quảng Ninh có nhiều lợi thế quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và trở thành một trong những địa phƣơng có sự phát triển năng động nhất ở phía Bắc đất nƣớc trong thời kỳ đổi mới. Đặc biệt, tỉnh Quảng Ninh rất giàu tiềm năng phát triển kinh tế, do có nhiều thế mạnh mà các vùng khác không có đƣợc, đó là tài nguyên khoáng sản, cảnh quan và các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản, cảng biển nƣớc sâu, du lịch, nuôi trồng thuỷ sản. Vùng biển tỉnh Quảng Ninh là nơi sinh sống của nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao nhƣ tôm hùm, cá song, ngọc trai.
và là nơi có nhiều hệ sinh thái cửa sông, ven biển quan trọng nhƣ những cánh rừng ngập mặn rộng lớn, đám san hô, bãi cá. Song song với những tiềm năng, triển vọng và thành tựu kinh tế đã đạt đƣợc trong nhiều năm qua, Quảng Ninh cũng đang đối mặt với những thách thức không nhỏ về môi trƣờng. Chất lƣợng môi trƣờng ở một số khu vực trọng điểm đã bị tác động mạnh, đa dạng sinh học suy giảm nhanh trong vòng 20 năm trở lại đây, nhiều nguồn tài nguyên môi trƣờng đã bị khai thác cạn kiệt. Điển hình là hoạt động khai thác than tồn tại hàng trăm năm nay đã làm mất đi nhiều cánh rừng là nơi cƣ trú của các loài động vật, và gây ra bồi lấp các dòng sông, suối; các hoạt động vận tải, sàng tuyển khai thác than và các loại khoáng sàng khác đã gây ra những nguồn ô nhiễm về nguồn nƣớc lớn, tăng sức ép lên các vùng sinh thái nhạy cảm.
Hoạt động này đã đang là nguyên nhân làm suy thoái tài nguyên, môi trƣờng, ảnh hƣởng trực tiếp đến tiềm năng phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân nhiều nơi trong tỉnh. n 2 Phần lớn các hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch và thuỷ sản phụ thuộc rất nhiều vào chất lƣợng của các nguồn tài nguyên môi trƣờng.Những vấn đề môi trƣờng hàng ngày đã, đang xảy ra và còn tiếp tục gặp phải trong tƣơng lai, với đà phát triển việc khai thác than, khoáng sàng khác nhƣ hiện nay và dự kiến trong tƣơng lai. Nghiên cứu, phân tích các giải pháp xử lý nƣớc thải trong quá trình khai thác khoáng sản ở các mỏ than vùng thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh, điển hình là mỏ than 790 trực thuộc Tổng Công ty than Đông Bắc; phân tích, đánh giá hiện trạng môi trƣờng; làm rõ các tác động của hoạt động khoáng sản tới môi trƣờng là yêu cầu cấp thiết, nhằm đề xuất các giải pháp xử lý, góp phần làm phong phú thêm các giải pháp xử lý nƣớc thải thích hợp áp dụng trong hoạt động khoáng sản nhằm hạn chế và khắc phục ô nhiễm môi trƣờng nƣớc tiến tới góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của hoạt động sản xuất khoáng sản tại Quảng Ninh và triệt tiêu đƣợc các mối nguy hiểm ảnh hƣởng đến đời sống con ngƣời, chất lƣợng môi trƣờng nƣớc đƣợc đảm bảo và cũng là góp phần phát triển các ngành khác nhƣ ngành du lịch, thuỷ sản, cảng biển… tại Quảng Ninh. Từ những vấn đề nêu trên, việc lựa chọn đề tài luận văn với tiêu đề: “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước thải hầm lò mỏ than tại công ty TNHH MTV 790 - thành viên trực thuộc Tổng Công ty than Đông Bắc và đề xuất công nghệ xử lý nước thải mỏ” mang tích cấp thiết.
Mục đích, yêu cầu 1. Mục đích - Phân tích đánh giá hiện trạng khai thác khoáng sản ở công tythan 790. - Phân tích, đánh giá hiện trạng môi trƣờng, đánh giá tác động của hoạt động khai thác khoáng sản tới môi trƣờng nƣớc. n 3 - Đề xuất một số giải pháp xử lý - kỹ thuật chủ yếu trong hoạt động khai thác khoáng sản nhằm hạn chế và khắc phục ô nhiễm các nguồn nƣớc.
Yêu cầu - Phản ánh đầy đủ, đúng đắn thực trạng ô nhiễm nƣớc thải do hoạt động khai thác khoáng sản ở công ty than 790. - Các tài liệu, thông số môi trƣờng nƣớc đƣợc lấy trung thực, khách quan tại địa bàn nghiên cứu. - Các biện pháp đƣợc đề xuất phải mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng những kiến thức đã học của nhà trƣờng vào thực tế. - Nâng cao kiến thức thực tế. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trƣờng. - Bổ sung tƣ liệu cho học tập.
-Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ hiện trạng môi trƣờng vùng mỏ và xây dựng các giải pháp xử lý bảo vệ môi trƣờng nƣớc vùng có hoạt động khoáng sản than. Ý nghĩa thực tiễn -Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các đơn vị có hoạt động khoáng sản và các đơn vị tƣ vấn về môi trƣờng nƣớc. - Đƣa ra đƣợc một số giải pháp xử lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về Môi trƣờng tại địa phƣơng. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở lý luận khoa học và pháp lý của đề tài 2. Cơ sở lý luận khoa học của đề tài * Khái niệm về môi trường Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trƣờng Việt Nam năm 2014, môi trƣờng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Môi trƣờng là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật” (Quốc hội, 2014) [8]. * Khái niệm về ô nhiễm môi trường Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trƣờng Việt Nam năm 2014, “Ô nhiễm môi trƣờng là sự biến đổi của các thành phần môi trƣờng không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng và tiêu chuẩn môi trƣờng gây ảnh hƣởng xấu tới con ngƣời và sinh vật” (Quốc hội, 2014) [8]. Trên thế giới ô nhiễm môi trƣờng đƣợc hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lƣợng vào môi trƣờng đến mức có khả năng gây hại cho sức khỏe con ngƣời, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lƣợng môi trƣờng.
Các tác nhân gây ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nƣớc thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc các tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lƣợng nhƣ nhiệt độ, bức xạ. Tuy nhiên, môi trƣờng chỉ đƣợc coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lƣợng, nồng độ hoặc cƣờng độ các tác nhân trên đạt mức có khả năng tác động xấu đến con ngƣời, sinh vật, vật liệu. * Khái niệm về nước thải Theo TCVN 1980 - 1995 và ISO 0107/1 - 1980: Nƣớc thải là nƣớc đã đƣợc thải ra sau khi đã đƣợc sử dụng hoặc đƣợc tạo ra trong một quá trình n 5 công nghệ và không còn giá trị trực tiếp với quá trình đó(Bộ TNMT 2009, 2010, 2011, 2012) [1]. Ngƣời ta còn định nghĩa nƣớc thải là chất lỏng đƣợc thải ra sau quá trình sử dụng của con ngƣời và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
Thông thƣờng nƣớc thải đƣợc phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng, đó là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý. Nƣớc thải đƣợc phân thành các loại cơ bản: - Nƣớc thải sinh hoạt: Là nƣớc thải từ các khu dân cƣ, khu vực hoạt động thƣơng mại, khu công sở, trƣờng học và các cơ sở tƣơng tự khác. - Nƣớc thải thấm qua: Là lƣợng nƣớc thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hồ ga hay hố xí. - Nƣớc thải tự nhiên: Nƣớc mƣa đƣợc xem nhƣ nƣớc thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng đƣợc thu gom theo hệ thống.
- Nƣớc thải đô thị: Nƣớc thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã, đó là hỗn hợp của các loại nƣớc thải đã kể ra. - Nƣớc thải công nghiệp (hay còn gọi là nƣớc thải sản xuất) là nƣớc thải đƣợc thải ra từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, khai thác khoáng sản. Tính chất của nƣớc thải công nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành công nghiệp khác nhau nhƣng nhìn chung nƣớc thải công nghiệp thƣờng chứa các hóa chất độc hại, kim loại nặng, các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học. Nước thải sản xuất trong khai thác khoáng sản Nƣớc thải sản xuất trong khai thác khoáng sản đƣợc chia thành hai loại: nƣớc thải sinh hoạt (phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của con ngƣời nhƣ n 6 tắm giặt, ăn uống, vệ sinh) và nƣớc thải công nghiệp (là do các hoạt động sản xuất khai thác than sinh ra nhƣ đào lò, nƣớc thải từ bãi thải, nƣớc thải từ kho than, nƣớc thải vệ sinh công nghiệp trên mặt bằng sân công nghiệp, nƣớc phun sƣơng dập bụi, nƣớc rửa xe…).
* Khái niệm về ô nhiễm nước Hiến chƣơng Châu Âu về nƣớc đã định nghĩa: “Ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi nói chung do con ngƣời đối với chất lƣợng nƣớc, làm nhiễm bẩn nƣớc và gây nguy hiểm cho con ngƣời, công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho các vật nuôi và các loài hoang dã” - Ô nhiễm nƣớc có nguồn gốc tự nhiên: do mƣa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đƣa vào môi trƣờng nƣớc các chất thải bẩn, các sinh vật vi sinh vật gây hại kể cả xác chết của chúng. - Ô nhiễm nƣớc có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dƣới dạng lỏng nhƣ các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trƣờng nƣớc. Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm ngƣời ta có thể phân ra các loại ô nhiễm nƣớc: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. *Khái niệm quản lý môi trường “Quản lý môi trƣờng là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lƣợng môi trƣờng sống và phát triển bền vững kinh tế, xã hội quốc gia” (Quốc hội, 2014) [8].
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng bao gồm: - Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trƣờng phát sinh trong hoạt động sống của con ngƣời.