Chương 1 do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 26/03/2014 [6] quy định: Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây độc hại hoặc có đặc tính nguy hại khác. * Tiêu chuẩn môi trƣờng Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kĩ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước, các tổ chức công bố dưới dạng văn bản nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ môi trường 2014) [6]. Cơ sở pháp lý - Căn cứ Luật tài nguyên nước năm 2012 được Quố c hô ̣i khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2012 và luâ ̣t có hiê ̣u lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. - Căn cứ Luật bảo vệ môi trường 2014 được quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Viêt Nam khoá XIII kì họp thứ 7 thông qua ngày 23/06/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015.
- Căn cứ Nghị định số 59/2007/ NĐ – CP ngày 09/04/2007 về quản lí chất thải rắn. n 7 - Căn cứ Nghị định số 127/2007/NĐ - CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật. - Căn cứ Nghị định số 201/2013/ NĐ – CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều thi hành Luật Tài nguyên nước. - Căn cứ Nghị định số19/2015/NĐ- CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật bảo vệ môi trường năm 2014.
- Căn cứ Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24/6/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/07/2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước. - Thông tư liên tịch số 80/2007/TTLT - BTC - BNN ngày 11/07/2007 của Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cho chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2006 - 2010. - Thông tư số 76 /2009/TT - BNNPTNT ngày 4 tháng 12 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn quản lý các nhiệm vụ bảo vệ môi trường thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. - Thông tư số 08/2010/TT - BTNMT ngày 18/3/2010 quy định việc xây dựng báo cáo môi trường quốc gia, báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực và báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh.
- Thông tư số 12/2011/TT - BTNMT ngày 14-4-2011 của bộ tài nguyên và môi trường Quy định về Quản lý chất thải nguy hại. - Thông tư số 43/2011/TT - BTNMT ngày 12/12/2011Quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường chất lượng nước bảo vệ thủy sinh và nước dùng cho tưới tiêu. n 8 - Quyết định số 08/2005/QĐ - BYT ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu. - Quyết định số 22/2006 QĐ - BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc áp dụng TCVN về môi trường.
- Quyết định số 153/2004/QĐ phê duyệt “định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” ( chương trình nghị sự 21 của Việt Nam.) - Quyết định số 15/2008/QĐ - BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định Bảo vệ tài nguyên nước dưới đất. - Quy định số 367- BVTV/QĐ về việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng ở Việt Nam do Cục Bảo vệ thực vật ban hành. - Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường trong Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. - Hệ thống các quy chuẩn Việt Nam ( QCVN 01-2009; QCVN 02 - 2009; QCVN 09-2008…) của Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành.
- Hệ thống các tiêu chuẩn Việt Nam ( TCVN 5942 - 1995, TCVN 1329/2002/BYT - QĐ, TCVN 5945 - 1995, TCVN 5944 - 1995). Cơ sở thực tiễn 2. Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên thế giới. Ô nhiễm môi trường không chỉ là vấn đề bức xúc mà còn là vấn đề đáng lo ngại hiện nay, nó không chỉ riêng ở Việt Nam mà cả trên Thế giới.
Hàng năm trên thế giới phải chịu nhiều thiệt hại về người và của do ô nhiễm môi trường gây ra. Nguyên nhân chủ yếu do nhận thức của con người chưa cao trong vấn đề bảo vệ môi trường. Cùng với đó là sự gia tăng dân số dẫn n 9 đến nhiều chất thải sinh hoạt thải ra môi trường sống. Quá trình đô thị hóa cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trầm trọng.
Được biết hàng ngày, môi trường sống của chúng ta phải tiếp nhận hàng trăm nghìn tấn rác, chất thải, khí thải từ các ngôi nhà hay những công ty, xí nghiệp, khu chế xuất…. Ô nhiễm môi trường không chỉ xảy ra ở thành thị, mà còn xảy ra ở nông thôn. Ở mỗi nơi, mỗi địa phương có những nguyên nhân khác nhau, nhưng chung quy lại đều do sự chủ quan, thiếu ý thức của mọi người. Nếu như ở thành thị ô nhiễm môi trường xuất phát từ các chất thải của các khu công nghiệp, khu chế xuất, thì ở nông thôn lại xuất phát từ ý thức của người dân chưa cao: phóng uế, vứt rác, xác động vật bừa bãi…Phần lớn ô nhiễm môi trường tại các thành thị đều do chưa có hệ thống xử lý chất thải hợp lý.
Còn ở nông thôn nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường phần lớn do các chất thải của con người và gia súc không được xử lý, hay xử lý chưa thích hợp. Ngoài ra, ô nhiễm môi trường còn chịu nhiều ảnh hưởng bởi những hóa chất, thuốc trừ sâu từ việc phun, xịt của người nông dân. Theo Lê Thạc Cán (1995) [2]. Trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tình hình môi trường trên thế giới hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả nhân tố về chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên có những đặc điểm sau: - Tăng trưởng dân số nhanh: dân số thế giới đã lên tới 5,769 tỷ người và sẽ tiếp tục tăng 8,5 tỷ người trong 3 thập kỷ tới.
Sau năm 2025, tốc độ tăng dân số sẽ chậm lại và lên tới 10 tỷ vào năm 2050. - Suy giảm tài nguyên đất: hậu quả môi trường gắn liền trực tiếp với gia tăng dân sốvà suy giảm tài nguyên đất. - Đô thị hóa mạnh mẽ: dân số đô thị tăng lên nhanh chóng với tốc độ là 3% hàng năm cho toàn thế giới và 3 – 5% cho khu vực Châu Á – Thái Bình n 10 Dương. Dự báo đến 2020, tại các nước đang phát triển trong khu vực 50% dân số sống ở các đô thịvà tại các nước phát triển tỷ lệ này là 75%.
- Hình thành các siêu đô thị: xu thế đô thị hóa này sẽ dẫn đến sự hình thành các siêu đô thị với dân số trên 4 triệu người. Sự hình thành các siêu đô thị tại tất cả các nước đều gây nên những khó khăn và phức tạp về chất lượng môi trường sống: ô nhiễm do công nghiệp, giao thông vận tải, vấn đề rác thải. - Mất cân đối dân số đô thị và nông thôn: sự mất cân đối này diễn ra qua việc dân nông thôn di cư một cách vô tổ chức tới các đô thị. Với xu thế này sự phân bốdân cư đô thị và nông thôn ngày càng mất cân bằng, đô thị thì ngày càng căng thẳng về chất lượng môi trường, nông thôn do thiếu lực lượng lao động trẻ, khỏe, công tác phục hồi suy thoái vì vậy sẽ gặp nhiều khó khăn.
- Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập không đều: sự không đồng đều về kinh tế, thu nhập và mức sống vật chất giữa các quốc gia ngày càng tăng. Do sự phân bố không đồng đều đó đã tạo nên một áp lực mạnh mẽ đối với tài nguyên thiên nhiên. - Nhu cầu về lương thực tăng nhanh. - Sản xuất lương thực tăng chậm và bước vào thời kỳ suy giảm.
- Gia tăng sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu: Nhìn chung trên toàn thế giới, lượng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, diệt cỏ sử dụng vào nông nghiệp đang tiếp tục tăng thêm, tại một số nơi tăng lên theo cấp số nhân. - Gia tăng sa mạc hóa. - Suy giảm sản lượng thủy sản. - Tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ dầu khí.
- Gỗ củi tiếp tục bị cạn kiệt nhanh chóng. - Chất lượng khí quyển tiếp tục bị suy thoái. n 11 - Rác thải rắn cũng tăng lên: Viện Blacksmith, một tổ chức nghiên cứu môi trường quốc tế có trụ sở tại NewYork (Mỹ), công bố danh sách 10 thành phố thuộc 8 nước được coi là ô nhiễm nhất thế giới năm 2006. Đó là các nước: Nga, Trung Quốc, Zambia, Cộng hòa Domica, Ấn Độ, Ukraine, Peru, Kyrgzstan.
Tại các thành phố này, hơn 10 triệu người có nguy cơ bị nhiễm trùng, ung thư phổi và giảm tuổi thọ. Trẻ em bị lở loét do ảnh hưởng của các chất gây ô nhiễm môi trường. Các vấn đề môi trường nông thôn ở Việt Nam. Kết quả điều tra toàn quốc về vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn do Bộ Y tế và UNICEF thực hiện được công bố ngày 26/3/2012 cho thấy VSMT và vệ sinh cá nhân còn quá kém chỉ có 18% tổng số hộ gia đình, 11,7% trường học, 36,6% trạm y tế xã, 21% UBND xã và 2,6% khu chợ tuyến xã có nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế ( Quyết định 08/2005/QĐ- BYT); Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch còn rất thấp 7,8% khu chợ nông thôn; 11,7% dân cư nông thôn; 14,2% trạm y tế xã; 16,1% UBND xã; 26,4% trường học có tiếp cận sử dụng nước máy.
Ngoài ra, kiến thức của người dân về vệ sinh cá nhân và VSMT còn rất hạn chế, thái độ của người dân còn rất bàng quang về vấn đề này (Nguyễn Hằng, 2008) [3]. Theo Lê Văn Khoa, Hoàng Xuân Cơ (2004) nước ta là một nước nông nghiệp, 74% dân số đang sống ở khu vực nông thôn và miền núi với khoảng 20% số hộ ở mức đói nghèo.