Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên là một xã miền núi thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, có cảnh quan tự nhiên đặc trưng gắn liền với khu di tích lịch sử Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ và lòng hồ Pá Khoang. Tuy nhiên, điều kiện cơ sở hạ tầng nông thôn tại địa phương còn gặp nhiều khó khăn, đời sống người dân phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp với dân cư phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Thái và dân tộc Mông). Trình độ nhận thức về bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân còn hạn chế, các thói quen sinh hoạt và tập quán canh tác lạc hậu kéo dài đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường sống.

Cụ thể, tình trạng chăn nuôi gia súc thả rông làm vương vãi chất thải ra đường làng ngõ xóm; tập quán nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn nhà gây mùi hôi thối và phát sinh ruồi muỗi; việc thiếu các công trình vệ sinh đạt chuẩn dẫn đến hiện tượng phóng uế bừa bãi ra đồi rừng, làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt khi mưa lũ. Bên cạnh đó, trong canh tác nông nghiệp, người dân lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, súc rửa bình phun và xả bao bì, chai lọ chứa hóa chất độc hại trực tiếp ra mương máng, nguồn nước tự nhiên. Hoạt động phát rừng làm nương rẫy trên đất dốc cũng làm suy thoái tài nguyên rừng và gây xói mòn đất. Trước thực trạng đó, đề tài được thực hiện nhằm đánh giá một cách toàn diện hiện trạng môi trường nông thôn và xây dựng các giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tìm hiểu về một số thói quen của các dân tộc trên địa bàn xã gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
  2. Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
  3. Đánh giá, đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng môi trường nông thôn và các hoạt động kinh tế, sinh hoạt, tập quán canh tác tác động đến môi trường tại xã Mường Phăng.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Mường Phăng (khảo sát trên 26/26 thôn bản), huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu và khảo sát thực địa được thực hiện từ ngày 15/01/2014 đến ngày 30/04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng khung lý luận về môi trường nông thôn, chất lượng môi trường và phát triển bền vững dựa trên các khái niệm định chuẩn của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và giáo trình chuyên ngành (Lê Văn Khoa và cộng sự, 2003). Về mặt pháp lý và quản trị, tác giả vận dụng hệ thống văn bản chỉ đạo gồm:

  • Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;
  • Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng;
  • Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16/5/2003 và Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 08/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và ngăn chặn nạn chặt phá rừng trái phép;
  • Chỉ thị số 15/2005/CT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quản lý công tác nương rẫy;
  • Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 21/5/2009 của UBND tỉnh Điện Biên về tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng;
  • Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm bốn phương pháp chính:

  1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo quy hoạch nông thôn mới năm 2013 của UBND xã Mường Phăng, dữ liệu khí tượng, thủy văn, địa chất và số liệu từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Điện Biên.
  2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn xã hội học: Thiết kế bộ phiếu câu hỏi có cấu trúc, tiến hành phỏng vấn trực tiếp 130 hộ gia đình tại 26/26 thôn bản trên địa bàn xã (mỗi thôn bản điều tra 5 phiếu đại diện; cơ cấu người trả lời gồm 123 nam và 7 nữ).
  3. Phương pháp quan sát và đánh giá hiện trường: Khảo sát thực địa cảnh quan, chụp ảnh hiện trạng các điểm nóng ô nhiễm môi trường (khu vực chăn nuôi gầm sàn, khu vực nương rẫy dốc, điểm lấy nước tự chảy, khu dân cư xả rác và nước thải), kết hợp tham vấn ý kiến cộng đồng.
  4. Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, phân loại và xử lý dữ liệu định lượng thu thập từ phiếu điều tra bằng phần mềm Microsoft Excel để tính toán tỷ lệ phần trăm và vẽ biểu đồ minh họa.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự tương phản giữa vẻ đẹp cảnh quan miền núi và áp lực ô nhiễm môi trường do tập quán canh tác, sinh hoạt lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Mường Phăng. Xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu, 5 yêu cầu kỹ thuật đối với số liệu điều tra và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của công trình trong công tác nâng cao nhận thức cộng đồng và hỗ trợ quản lý môi trường cấp cơ sở.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Khái quát hệ thống cơ sở lý luận về môi trường nông thôn, định nghĩa ô nhiễm và chất lượng môi trường. Tổng quan các vấn đề môi trường toàn cầu như biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, thoái hóa đất (khoảng 305 triệu ha đất màu mỡ trên thế giới bị suy thoái do con người), khủng hoảng nguồn nước ngọt và suy giảm đa dạng sinh học. Đồng thời, chương này phân tích hiện trạng môi trường Việt Nam: suy giảm diện tích rừng tự nhiên (đến năm 2013 chỉ còn khoảng 19,7% độ che phủ rừng và 10% rừng nguyên sinh), ô nhiễm lưu vực sông, áp lực chất thải từ chăn nuôi (ước tính trên 73 triệu tấn chất thải/năm trên toàn quốc), rác thải rắn sinh hoạt nông thôn (đạt 13,5 triệu tấn/năm vào năm 2010), cùng những hệ lụy từ lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể đối tượng nghiên cứu (hiện trạng môi trường nước, rác thải, chất thải chăn nuôi, nhà tiêu, hóa chất nông nghiệp); phạm vi không gian tại xã Mường Phăng; thời gian nghiên cứu (15/01/2014 - 30/04/2014). Nêu chi tiết 4 nhóm phương pháp triển khai gồm: thu thập tài liệu thứ cấp, điều tra bảng hỏi 130 hộ gia đình tại 26 thôn bản, quan sát đánh giá thực địa và xử lý dữ liệu thống kê bằng Microsoft Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện bức tranh môi trường xã Mường Phăng:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Độ cao địa hình từ 880 m đến 1.635 m, khí hậu nhiệt đới gió mùa phân hóa 2 mùa (mùa mưa từ tháng 4 - 10, mùa khô từ tháng 11 - 3 năm sau), hệ thống suối Nậm Phăng và Nậm Điếng cấp nước cho hồ Pá Khoang. Dân số toàn xã là 1.002 hộ với 4.671 nhân khẩu (dân tộc Thái chiếm 78,15%, dân tộc Mông chiếm 20,25%, dân tộc Kinh chiếm 1,6%). Tỷ lệ che phủ rừng toàn xã đạt 39,63%; năm 2013 phát hiện 20 vụ vi phạm lâm nghiệp.
  • Những thói quen gây ảnh hưởng môi trường: Hoạt động phát rừng làm nương rẫy trên đất dốc trồng sắn, dong riềng làm đất nhanh chóng bị bạc màu và xói mòn; thói quen dùng thuốc diệt cỏ đầu nguồn và rửa bình phun trực tiếp vào nguồn nước; tập quán nhốt gia súc dưới gầm sàn nhà ở của người Thái và tập quán thả rông gia súc của người Mông.
  • Hiện trạng các thành phần môi trường nông thôn: Kết quả điều tra 130 hộ gia đình cho thấy:
    • Nước sinh hoạt: 80,77% hộ dùng nước tự chảy từ khe núi, 16,15% dùng giếng đào, 3,08% dùng giếng khoan; 80,77% đánh giá nước bình thường, trong khi 19,23% phản ánh nước bị đục sau mưa to hoặc nhiễm đá vôi.
    • Nước thải: 48,46% hộ không có cống thoát nước; 34,62% có cống lộ thiên; 75,38% xả nước thải ngấm tự do vào đất vườn.
    • Chất thải rắn: Lượng rác phát sinh <5 kg/hộ/ngày; 57,69% hộ tự đổ rác riêng lẻ trong vườn; 34,62% đổ rác tùy tiện; chưa có dịch vụ thu gom rác tập trung.
    • Vệ sinh môi trường: Chỉ 11,54% hộ có nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh; 42,31% dùng nhà tiêu đất; 30,77% dùng nhà tiêu hai ngăn chưa đúng tiêu chuẩn kỹ thuật; 15,38% hoàn toàn không có nhà tiêu.
    • Hóa chất nông nghiệp: 94,62% hộ sử dụng phân bón hóa học; phân hữu cơ qua xử lý chỉ đạt 25,38%; bao bì thuốc bảo vệ thực vật bị vứt bừa bãi tại nương rẫy và mương máng.
  • Đề xuất giải pháp: Tác giả đề xuất các mô hình sinh thái kỹ thuật như mô hình R-VAC trên đất dốc, đệm lót sinh học trong chăn nuôi, hầm biogas gia đình, bãi lọc ngầm trồng thực vật thủy sinh xử lý nước thải, ủ phân hữu cơ vi sinh (compost), cải tạo nhà tiêu tự hoại hoặc nhà tiêu hai ngăn ủ tro, cùng các giải pháp quản lý hương ước thôn bản.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện chính về hiện trạng ô nhiễm cục bộ tại địa phương; kiến nghị các cấp chính quyền tăng cường đầu tư hạ tầng cấp thoát nước, chuyển giao kỹ thuật xử lý chất thải và đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi tập quán lạc hậu.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng khảo sát thực địa

Dữ liệu khảo sát trên 130 hộ gia đình tại 26 thôn bản xã Mường Phăng được tổng hợp cụ thể qua bảng số liệu sau:

Hạng mục khảo sát Phân loại chi tiết Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%)
Vị trí nhốt gia súc của người Thái (n = 110 hộ) Chuồng trại riêng không chung nhà
Dưới gầm sàn nhà
Xung quanh nhà
Thả rông
68
35
7
0
61,82
31,82
6,36
0,00
Hình thức nuôi gia súc của người Mông (n = 20 hộ) Chuồng trại riêng không chung nhà
Dưới gầm sàn nhà
Xung quanh nhà
Thả rông
8
0
5
7
40,00
0,00
25,00
35,00
Nguồn nước ăn uống sinh hoạt (n = 130 hộ) Nước tự chảy từ khe núi
Nước giếng đào
Nước giếng khoan
105
21
4
80,77
16,15
3,08
Chất lượng nguồn nước ăn uống (n = 130 hộ) Bình thường
Bị đục sau khi mưa to
Nhiễm đá vôi
Nhiễm đá vôi và bị đục sau mưa to
105
10
5
10
80,77
7,69
3,85
7,69
Hiện trạng hệ thống cống thoát nước thải (n = 130 hộ) Không có cống thải
Cống thải lộ thiên
Cống thải có nắp đậy
63
45
22
48,46
34,62
16,92
Nguồn tiếp nhận nước thải sinh hoạt (n = 130 hộ) Ngấm trực tiếp xuống đất/vườn
Ao làng
Cống thải chung
Bể tự hoại
Nơi khác
98
20
5
3
4
75,38
15,38
3,85
2,31
3,08
Hình thức đổ rác thải sinh hoạt (n = 130 hộ) Đổ rác riêng theo hộ gia đình
Đổ rác tùy nơi
Đổ ở bãi rác chung
Có dịch vụ thu gom
75
45
10
0
57,69
34,62
7,69
0,00
Hiện trạng công trình nhà vệ sinh (n = 130 hộ) Nhà vệ sinh đất
Nhà vệ sinh hai ngăn
Không có nhà vệ sinh
Nhà vệ sinh tự hoại
55
40
20
15
42,31
30,77
15,38
11,54
Tình hình sử dụng các loại phân bón (n = 130 hộ) Phân bón hóa học
Phân hữu cơ qua xử lý
Phân hữu cơ chưa qua xử lý
Phân vi sinh
123
33
27
13
94,62
25,38
20,77
10,00

Hệ thống giải pháp đề xuất

  1. Giải pháp kỹ thuật sinh thái và hạ tầng xử lý chất thải:
    • Xây dựng mô hình Rừng - Vườn - Ao - Chuồng (R-VAC) trên đất dốc để hạn chế xói mòn và phục hồi độ phì nhiêu của đất.
    • Ứng dụng công nghệ đệm lót sinh học trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm hấp thụ phân, khử mùi hôi chuồng trại.
    • Xây dựng hầm biogas xử lý phân động vật, cung cấp khí đốt sinh học phục vụ đun nấu gia đình.
    • Ứng dụng bể lọc cát - sỏi gia đình để lọc sơ bộ nguồn nước tự chảy bị đục sau mưa.
    • Triển khai mô hình bãi lọc ngầm trồng thực vật thủy sinh để xử lý nước thải sinh hoạt phân tán trước khi thải ra môi trường.
    • Hướng dẫn quy trình ủ phân hữu cơ vi sinh (compost) từ rác thải hữu cơ và phân gia súc, đảm bảo thời gian ủ trên 6 tháng nhằm diệt trừ mầm bệnh trước khi bón cho cây trồng.
    • Xây dựng mẫu nhà tiêu tự hoại 3 ngăn hoặc nhà tiêu 2 ngăn ủ tro hợp chuẩn theo quy định của Bộ Y tế.
  2. Giải pháp quản lý và xã hội:
    • Đưa tiêu chí bảo vệ môi trường vào hương ước, quy ước của 26 thôn bản; quy định cụ thể khu vực chăn thả và thời gian đốt nương rẫy.
    • Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các hộ gia đình người Thái di dời gia súc ra khỏi gầm sàn nhà ở và vận động người Mông chấm dứt thói quen thả rông gia súc bừa bãi.
    • Tổ chức các điểm thu gom vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật tập trung sau khi sử dụng; tăng cường kiểm tra xử lý việc phát rừng làm nương rẫy trái phép.

Đóng góp của công trình

Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực tế toàn diện đầu tiên về hiện trạng vệ sinh và môi trường nông thôn trên toàn bộ 26 thôn bản xã Mường Phăng. Nghiên cứu đã làm rõ mối tương quan giữa đặc trưng văn hóa, tập quán của từng tộc người (Thái, Mông) với các nguồn phát thải ô nhiễm, từ đó đề xuất được các giải pháp kỹ thuật có tính chi phí thấp, phù hợp với tập quán và điều kiện kinh tế miền núi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi và quan sát hiện trường, chưa có điều kiện lấy mẫu nước, mẫu đất và không khí để phân tích định lượng các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh trong phòng thí nghiệm. Dữ liệu về diện tích rừng bị phá làm nương rẫy chưa có thống kê định lượng cụ thể từ cơ quan chuyên trách mà chỉ phản ánh qua số vụ vi phạm hành chính.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu bằng việc lấy mẫu quan trắc, phân tích định lượng chất lượng nguồn nước tự chảy và nước ngầm tại địa phương; đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật thực nghiệm của mô hình bãi lọc ngầm thủy sinh và hầm biogas quy mô hộ gia đình khi triển khai áp dụng đại trà tại các xã vùng cao.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Đối tượng: Sinh viên, học viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; cán bộ quản lý môi trường cấp cơ sở (xã, huyện) và cán bộ chỉ đạo chương trình Xây dựng Nông thôn mới tại các địa bàn miền núi phía Bắc.
  • Nội dung giá trị: Mẫu phiếu điều tra xã hội học về môi trường nông thôn miền núi; bộ số liệu thống kê chi tiết về hiện trạng hạ tầng vệ sinh, nguồn nước, rác thải tại xã Mường Phăng năm 2014; các sơ đồ thiết kế nguyên lý mô hình xử lý chất thải chi phí thấp (đệm lót sinh học, bãi lọc ngầm thực vật thủy sinh, ủ compost, nhà tiêu hợp chuẩn).

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nước ăn uống sinh hoạt chủ yếu của người dân xã Mường Phăng bắt nguồn từ đâu và chất lượng ra sao? Người dân sử dụng 3 nguồn nước chính: 80,77% số hộ dùng nước tự chảy dẫn từ các khe núi về bể chung, 16,15% dùng giếng đào và 3,08% dùng giếng khoan. Về chất lượng, 80,77% số hộ đánh giá nước bình thường, trong khi 19,23% số hộ phản ánh nước có vấn đề (7,69% bị đục sau mưa to, 3,85% nhiễm đá vôi và 7,69% vừa nhiễm đá vôi vừa bị đục sau mưa).

2. Tập quán chăn nuôi của dân tộc Thái và dân tộc Mông tại Mường Phăng có sự khác biệt như thế nào về mặt môi trường? Người Thái cư trú tại nhà sàn, có tập quán nhốt gia súc dưới gầm sàn (chiếm 31,82% số hộ được khảo sát) gây mùi hôi thối và phát sinh côn trùng truyền bệnh trực tiếp vào không gian ở. Ngược lại, người Mông ở nhà đất 4 mái, chuồng trại bố trí quanh nhà (25%) hoặc thả rông gia súc (35%) để gia súc tự kiếm ăn, làm phân gia súc phát tán tự do ra đường làng và nguồn nước mặt khi mưa lũ.

3. Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế tại địa phương đạt mức nào? Theo kết quả điều tra 130 hộ gia đình đối chiếu với Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT, chỉ có 11,54% số hộ có nhà tiêu tự hoại đạt chuẩn hợp vệ sinh. Phần còn lại gồm 42,31% hộ sử dụng nhà tiêu đất tạm bợ, 30,77% sử dụng nhà tiêu hai ngăn chưa đúng quy chuẩn kỹ thuật (thường lấy phân ra bón khi chưa đủ thời gian ủ 6 tháng) và 15,38% số hộ hoàn toàn không có nhà tiêu.

4. Tình trạng quản lý nước thải và rác thải sinh hoạt tại xã Mường Phăng diễn ra như thế nào? Hạ tầng thoát nước và xử lý chất thải gần như chưa được đầu tư đồng bộ: 48,46% hộ không có cống thoát nước, 75,38% hộ xả nước thải ngấm tự do ra đất vườn. Đối với rác thải, không có dịch vụ thu gom tập trung; 57,69% hộ tự đào hố đổ rác riêng và 34,62% đổ rác tùy tiện ra môi trường tự nhiên.

5. Những mô hình kỹ thuật nào được tác giả đề xuất để xử lý chất thải sinh hoạt và chăn nuôi tại xã? Tác giả đề xuất các mô hình sinh thái phân tán gồm: ứng dụng đệm lót sinh học trong chuồng trại, xây dựng hầm biogas tạo khí đốt gia đình, bãi lọc ngầm trồng thực vật thủy sinh xử lý nước thải sinh hoạt, bể lọc cát sỏi hộ gia đình và quy trình ủ compost phân gia súc với rác hữu cơ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mùa A Kềnh đã hoàn thành việc điều tra, phản ánh trung thực bức tranh hiện trạng môi trường nông thôn tại 26 thôn bản xã Mường Phăng năm 2014, chỉ rõ các tác động môi trường bắt nguồn từ tập quán sinh hoạt và canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số. Với hệ thống dữ liệu thực địa gồm 130 hộ gia đình cùng chuỗi giải pháp kỹ thuật sinh thái chi phí thấp và cơ chế quản lý bằng hương ước thôn bản, công trình mang lại giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực cho công tác bảo vệ môi trường và quy hoạch nông thôn mới tại các địa bàn miền núi Tây Bắc.