Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu bao gồm bối cảnh nghiên cứu và các vấn đề được đặt ra. Chương 2: Tổng quan lý thuyết về năng lực cạnh tranh từ đó lựa chọn khung phân tích đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh và đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam. Chương 3: Phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh và các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam trên cơ sở khung phân tích đã lựa chọn. Chương 4: Kết luận và một số gợi ý chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam căn cứ kết quả phân tích tại chương 3.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH Trong chương này đề tài sẽ tiến hành tổng hợp một cách tổng quát các lý thuyết về năng lực cạnh tranh để rút ra khung phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh cho ngành Công nghiệp phần mềm (CNpPM) Việt Nam, tuy nhiên điều cần thiết trước tiên là cần tìm hiểu về ngành CNpPM và lý do tại sao ngành CNpPM nên được phát triển. Như vậy chương này nội dung trình bày sẽ bao gồm 6 phần: Phần 1 trình bày về đặc điểm, vai trò của ngành CNpPM trong nền kinh tế; Phần 2 trình bày về lý do để phát triển ngành CNpPM; Phần 3 trình bày các khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh; Phần 4 trình bày các cấp độ của năng lực cạnh tranh; Phần 5 trình bày về các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh và Phần 6 là đúc kết khung phân tích năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam.1 Đặc điểm, vai trò của ngành CNpPM trong nền kinh tế 2.1 Khái niệm về ngành Công nghiệp CNTT và ngành CNpPM - Công nghiệp CNTT: là ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao sản xuất và cung cấp sản phẩm CNTT, bao gồm sản phẩm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số (Điều 4, Luật CNTT). - Công nghiệp phần mềm: CNpPM là ngành công nghiệp quan trọng của CNTT. CNpPM bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm và cung ứng các dịch vụ phần mềm (Nghị quyết 07/2000/NQ-CP ngày 05/06/2000).
- Phần mềm: là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định (Điều 4, Luật CNTT) .2 Đặc điểm của ngành CNpPM Là ngành kinh tế tri thức, công nghệ cao: CNpPM là ngành công nghiệp lớn của kinh tế tri thức, trong đó một phân ngành của CNpPM là ngành Công nghiệp sáng tạo (CNST) mà sản phẩm của nó là các phần mềm. Vì vậy sản phẩm ngành CNpPM chứa đựng hàm lượng trí tuệ cao, hàm lượng lao động cơ bắp và hàm lượng nguyên vật liệu thấp. Nói cách khác “nguyên liệu đầu vào” của ngành CNpPM chủ yếu là tri thức và trực tiếp từ bộ não con người tham gia trong quy trình sản xuất. Sản phẩm của ngành CNpPM luôn có sự cải tiến và đổi mới: Ngành CNpPM cho ra những sản phẩm của trí tuệ, có đặc tính cá thể đơn lẻ, đặc thù riêng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Sản phẩm ra đời sau luôn luôn có sự cải tiến, đổi mới so với sản phẩm trước vì khi trí tuệ con người tham gia cao TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 độ và trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ thì luôn có những nét mới (các phiên bản của hệ điều hành Window của Microsoft là ví dụ điển hình). Chi phí cho R&D của ngành lớn với mức độ mạo hiểm cao: Do sản phẩm của ngành CNpPM có đặc tính cá thể đơn lẻ, đặc thù riêng và luôn có sự cải tiến, đổi mới vì vậy hoạt động R&D là một trong những đặc điểm quan trọng của ngành và mang lại lợi nhuận cao. Tuy nhiên chi phí cho R&D của ngành là rất lớn nếu so với chi phí sản xuất phần mềm trong khi độ mạo hiểm lại rất cao do chưa chắc chắn về sự thành công. Vì vậy đầu tư cho R&D lĩnh vực CNpPM được xếp vào loại hình ”đầu tư mạo hiểm”.
Chi phí R&D có thể chiếm đến 15%-20% doanh thu hàng năm của những DN lớn và khoảng trên 5% doanh thu của những doanh nghiệp trung bình (Trung tâm Nghiên cứu Thượng Hải, 2004:9). Là ngành công nghiệp có giá trị gia tăng lớn, tạo ra giá trị xuất khẩu cao: Do ngành CNpPM là bộ phận cấu thành của nền kinh tế tri thức và là ngành Công nghiệp sáng tạo (CNST) mà sản phẩm của ngành CNST thường có giá trị gia tăng rất cao. Vì vậy sản phẩm ngành CNpPM mang một hàm lượng giá trị gia tăng có thể trên 80% (GSO, ngày truy cập 30/12/2010). Do đó ngành CNpPM đã mang lại những giá trị kinh tế rõ ràng không thể phủ nhận, đóng góp cho sự phát triển kinh tế của quốc gia nói chung và của các tập đoàn, công ty nói riêng.
Sự thành công của ngành CNpPM của Ấn độ, hay sự thành công của các tập đoàn nổi tiếng trên thế giới như Microsoft, Google, Facebook và rất nhiều công ty phần mềm khác trên toàn cầu là những ví dụ điển hình. Tuy nhiên cũng do là một ngành CNST và sản phẩm có khả năng sao chép, nhân bản, chuyển giao tới người sử dụng (qua mạng) cho nên sự phát triển của ngành CNpPM bị ảnh hưởng không nhỏ bởi nạn vi phạm bản quyền. Là ngành công nghiệp có tính tích hợp cao: Yếu tố then chốt để một quốc gia đạt được sự phát triển nhanh và bền vững đó chính là sự gia tăng nhanh tốc độ tăng năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) ở các ngành, các lĩnh vực như: sản xuất, y tế, giáo dục, tài chính, ngân hàng … thông qua đẩy mạnh ứng dụng CNTT – TT trong công tác quản lý và các quy trình sản xuất bên cạnh các yếu tố khác như về môi trường, con người và hệ thống đổi mới. Vì vậy sản phẩm của ngành CNpPM đã thâm nhập và tích hợp vào sâu trong các các ngành, các lĩnh vực và trở thành yếu tố then chốt cho sự phát triển nhanh chóng của các ngành, lĩnh vực này.
Số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực là điều kiện then chốt cho sự thành công của ngành công nghiệp phần mềm: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Như đã đề cập, CNpPM là ngành công nghiệp mà “nguyên liệu đầu vào” chủ yếu là tri thức, do đó nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là nhân tố quyết định ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và là điều kiện tiên quyết để mang lại sự thành công cho ngành này. Vấn đề này cũng đã được đề cập đến trong nhiều cuộc hội nghị, hội thảo quốc gia về phát triển nguồn nhân lực cho ngành CNTT1 cũng như trong quan điểm chỉ đạo điều hành của Chính phủ về phát triển ngành CNpPM2. Chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển ngành CNpPM: Vai trò của Chính phủ có thể được xem như vai trò của “bà đỡ” đối với sự phát triển của bất kỳ một ngành công nghiệp nào. Vai trò này còn đặc biệt quan trọng đối với ngành CNpPM thông qua các chính sách hỗ trợ như: giảm các loại thuế, xây dựng các khu công viên phần mềm tập trung; thành lập các quỹ R&D và ươm tạo DN …; các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài; các chính sách phát triển ngành; chính sách phát triển nguồn nhân lực và trên hết là sự hoạt động hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước.
Chính phủ đã được Stanley Nollen (2003- 2004) chứng minh có vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành CNpPM Ấn độ và Trung quốc3.3 Vai trò của ngành CNpPM trong nền kinh tế: Từ những đặc điểm nêu trên, ngành CNpPM có những vai trò nổi bật như sau: Là ngành kinh tế trọng điểm trong nền kinh tế quốc dân, góp phần vào tăng trưởng GDP và xuất khẩu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần quan trọng vào sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Là ngành công nghiệp góp phần quan trọng thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác cùng phát triển. Trong bối cảnh chung toàn cầu của những chuyển dịch mang tính cơ cấu như cuộc cách mạng CNTT - TT, những tiến bộ nhanh chóng và vượt bậc của khoa học - công nghệ, làn sóng toàn cầu hoá kinh tế đã thúc đẩy nền kinh tế thế giới chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức và cạnh tranh trên quy mô toàn cầu. Vì vậy với đặc điểm của ngành CNpPM là bộ phận cấu thành của nền kinh tế tri thức và sản phẩm của nó mang tính tích hợp cao, đã thâm nhập sâu vào trong các hoạt động quản lý nhà nước, trong tất cả các ngành công nghiệp, dịch vụ, các lĩnh vực và mọi mặt đời sống 1 Ngày 10/1/2010, tại Đà Nẵng, dưới sự chủ trì của Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ Giáo dục - Đào tạo cùng Bộ TT-TT đã tổ chức hội thảo quốc gia "Đào tạo nguồn nhân lực CNTT - TT theo nhu cầu xã hội".
Ngày 21/4/2010, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục -Đào tạo phối hợp với Bộ TT – TT tổ chức Hội nghị quốc gia phát triển nguồn nhân lực CNTT. 2 Xem phụ lục 2 3 Xem chi tiết nghiên cứu của Staley Nollen về năng lực cạnh tranh của ngành CNPM Ấn độ và Trung quốc tại phụ lục 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 xã hội do đó nó là nền tảng và góp phần quan trọng thúc đẩy các ngành, lĩnh vực cùng phát triển, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong điều kiện toàn cầu hóa cũng như trong việc đáp ứng các nhu cầu mang tính toàn cầu. Góp phần giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cao cho một số lượng lớn lao động trong cả nước. Hết năm 2009, ngành CNpPM Việt Nam có khoảng 64.000 lao động với mức thu nhập bình quân là 4250 USD/người, cao hơn mức bình quân đầu người của quốc gia1 (Bộ TT – TT, 2010:36).
Với mức tăng trưởng trung bình khoảng 35%/năm như hiện nay, nhu cầu về nhân lực của ngành CNpPM chắc chắn sẽ tăng cao trong thời gian tới. Cụ thể tại Hội nghị quốc gia về CNTT sáng 21/04/2010 tại Hà Nội, ông Nguyễn Thanh Tuyên, Phó Vụ trưởng Vụ CNTT, Bộ TT-TT cho biết dự báo về sự phát triển của ngành công nghiệp CNTT vào năm 2020, trong đó doanh số của ngành CNpPM Việt Nam sẽ đạt 3,5 tỷ USD. Để đạt được con số doanh thu trên, nhu cầu nhân lực ngành phần mềm vào năm 2020 sẽ là 130.