phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. - Ba chương nội dung của luận văn hướng đến giải quyết những vấn đề sau đây: Chương một giới thiệu khái quát về tác giả trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của nền văn học Ấn Độ đương đại viết bằng tiếng Anh. Chương hai và chương ba phân tích hai vấn đề cơ bản tạo nên nét đặc trưng trong phong cách truyện ngắn của Jhumpa Lahiri. Hai vấn đề đó là: Hình tượng nhân vật người di cư và hình tượng không gian di cư trong truyện ngắn Jhumpa Lahiri.
- Phần kết luận. Trong phần này, chúng tôi sẽ tổng hợp và đánh giá những vấn đề đã trình bày trong các chương và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong các công trình nghiên cứu sau này. Đóng góp của luận văn Ý nghĩa khoa học: Đề tài luận văn: Đặc trưng truyện ngắn của Jhumpa Lahiri sẽ góp phần nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Jhumpa Lahiri, nhà văn nữ nổi danh của văn học đương đại Ấn Độ. Ý nghĩa thực tiễn: Hiện nay, tên tuổi Jhumpa Lahiri còn khá xa lạ với độc giả Việt Nam.
Vì vậy, công trình nghiên cứu này sẽ góp phần đưa Jhumpa Lahiri đến gần hơn với độc giả và giới nghiên cứu Việt Nam, đồng thời cung cấp cái nhìn mới về một hiện tượng văn chương đặc biệt: “Văn chương di dân” mà Lahiri là một trong những đại diện xuất sắc. Chương một : JHUMPA LAHIRI VÀ NỀN VĂN HỌC ẤN ĐỘ VIẾT BẰNG TIẾNG ANH 1. Jhumpa Lahiri – đứa con của ba lục địa Jhumpa Lahiri sinh ngày 11 tháng 7 năm 1967 tại London, trong một gia đình người Ấn gốc Bengal di cư (Bengali Indian immigrants). Mặc dù sinh ra ở vùng Bắc Âu, nhưng vẻ đẹp của Jhumpa Lahiri vẫn rất đặc trưng Ấn Độ: khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, đôi mắt đen huyền, sâu thẳm.
Vẻ bề ngoài ấy có phần xa lạ với những cư dân xứ sở sương mù. Tuy nhiên, khi chưa kịp lớn để nhận thức sự khác biệt của bản thân với thế giới xung quanh, cô bé hai tuổi Jhumpa đã phải theo bước viễn du của cha mẹ chuyển đến tiểu bang Rhode Island – Hoa Kỳ. Tại đây, cha của Jhumpa làm việc cho thư viện trường đại học Rhode Island. Jhumpa đã dần trở thành công dân Mỹ.
Cô tốt nghiệp THPT ở trường Kingstown High School, tốt nghiệp cử nhân văn chương của trường Barnard College năm 1989, cao học văn chương và tiến sĩ ngành Renaissance Studies tại Boston University. Năm 2001, Lahiri kết hôn với Alberto Vourvoulias-Bush, tổng biên tập của báo Time Latin America. Hiện tại, cô là Phó chủ tịch Hội văn bút Mỹ, sống cùng chồng và hai con ở New York. Có thể nói, Jhumpa Lahiri là đứa con của ba lục địa, Ấn Độ là quê cha mẹ, Anh Quốc là nơi sinh và Hoa Kỳ là nơi định cư lâu dài.
Ba quốc gia này đại diện cho hai khu vực văn hóa khác biệt và có thể nói là đối lập nhau: Ấn Độ đại diện cho văn hóa phương Đông hướng nội, duy linh, duy cảm và Anh Quốc, Hoa Kỳ đại diện cho văn hóa phương Tây hướng ngoại, duy lí. Ý thức về sự khác nhau giữa văn hóa Đông – Tây từ lâu đã được mặc định. Sự tranh chấp mỗi khi va chạm là nỗi ám ảnh của hầu hết những người da màu định cư ở các nước phương Tây. Và đây cũng là nguyên nhân làm nảy sinh ở họ một đời sống tinh thần phức tạp với nhiều xúc cảm và ràng buộc.
Mối ràng buộc đầu tiên gắn kết Jhumpa với Ấn Độ. Đây là quê hương của cha mẹ cô, là nơi ấn định trong nhận thức của họ về sở cứ tồn tại. Nên, dù sống ở nước ngoài trên ba mươi năm, cha mẹ Jhumpa vẫn không thể coi một nơi nào là “nhà” ngoài Ấn Độ. Họ áp đặt tâm thế ấy lên con cái, buộc chúng phải yêu tất cả mọi thứ thuộc về Ấn Độ như: trang phục, thức ăn, tôn giáo, ngôn ngữ… bất chấp sự bất hợp lí và khó hòa đồng với thực tại.
Vì vậy, mặc dù không trực tiếp trải nghiệm cuộc sống trên đất Ấn nhưng dưới sự giáo dục nghiêm khắc của gia đình, Jhumpa đã sống như một người Ấn Độ đích thực trên đất Mỹ. Từ nhỏ, Jhumpa đã bị ám ảnh bởi hai tiếng “Ấn Độ”. Nó khiến cô thường xuyên phải đối mặt với nghịch cảnh, thường xuyên bị ép buộc làm những điều ngoài ý muốn: “Ở nhà, tôi theo phong tục của cha mẹ, nói tiếng Bengali, ăn cơm với các ngón tay của mình. Sự thật này dường như là một phần bí mật trong cuộc sống của tôi, và tôi đau khổ che giấu chúng với các bạn người Mỹ” [71].
Nhưng mọi cố gắng che giấu sự khác biệt của Jhumpa đều không có kết quả, vì nó hiện lên rõ ràng qua cái tên, dáng vẻ bên ngoài và cung cách sinh hoạt, khiến cho cô luôn cảm thấy ngại ngùng: “Tôi luôn thấy ngại ngùng vì cái tên của mình, cảm thấy như mình là nguyên nhân khiến cho mọi người thắc mắc”. Cảm giác này càng nặng nề hơn khi cô cùng cha mẹ về thăm Ấn Độ: “Tôi đã trải qua quá nhiều những buổi tối ở khách sạn trong những thành phố Châu Á, lãng phí thời gian xem ti vi mà tôi không hiểu đang nói về điều gì… Những lúc ấy mẹ tôi tỏ ra rất buồn phiền” [66]. Jhumpa đã không có tuổi thơ bình thường như bao đứa trẻ người Mỹ khác. Đời sống tinh thần của cô luôn chịu áp lực từ hai phía: trong gia đình (cha mẹ muốn con gái là người Ấn Độ) và ngoài xã hội (cộng đồng da trắng buộc cô giống người Mỹ): “trung thành với quá khứ và hòa nhập vào hiện tại, xem chúng ngang hàng như hai từ của hai bên dấu gạch nối: Ấn – Mỹ (Indian – American)” [71].
Sau này, Jhumpa đã giải thích rằng, sở dĩ cô luôn nghĩ mình là người Ấn Độ không phải vì thường xuyên được đưa về Ấn Độ hay do gen di truyền mà vì sự kiên định của cha mẹ cô. Họ luôn nói rằng cô không phải là người Mỹ, rằng không có gì khó khăn khi cô cố gắng vượt qua điều này. Từ những quy định bảo thủ này, Jhumpa chua xót rút ra bài học: “một cộng một không bằng hai mà bằng không”; “Những xung đột trong bản thân cô cộng hưởng lại và triệt tiêu lẫn nhau” [71]. Khi Jhumpa Lahiri lớn lên, những ám ảnh này dần dần được xem xét lại bằng những suy nghĩ chín chắn.
Cô vẫn thường trực cái cảm giác mình là người Ấn Độ, mặc dù không còn bị áp đặt nữa: “Bản thân tôi thường nghĩ về cội nguồn rất nhiều. Các nhà văn thường có xu hướng đào sâu vào cội rễ cũng như can đảm đương đầu với những lộn xộn của cuộc sống hiện tại. Tôi đoán và hy vọng các con mình sẽ biết quan tâm đến tương lai cũng như quá khứ gia đình, đồng thời biết chấp nhận và tôn trọng những giá trị truyền thống” [58]. Hai tiếng “Ấn Độ” là động lực thôi thúc Jhumpa quay trở về, thực hiện cuộc hành trình tìm kiếm, khám phá cội nguồn như một sự tri ân sâu sắc: “Tôi cảm ơn Ấn Độ với sự nỗ lực của cha mẹ tôi.
Tôi tin rằng tôi luôn luôn thiếu quyền lực mà hai con người ấy có được từ Ấn Độ. Nhưng miễn họ còn sống là họ sẽ bảo vệ tôi khỏi cảm giác như một kẻ mạo danh” [71]. Jhumpa Lahiri đã đi qua mọi nẻo đường Ấn Độ. Cô quan tâm, lo ngại về sự ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân lên xứ sở này.
Nó gợi mối trăn trở về thân phận của những người da màu khi phải đối diện với người da trắng. Dù là “chủ” (trên quê hương) hay là “khách” (trên xứ người), người da màu vẫn bị xem là hạ đẳng, nhất là đối với những dân tộc đã từng chịu sự nô dịch của người da trắng như Ấn Độ: “Tác động tai hại nhất của thực dân hóa không phải là thuộc địa bị biến thành nô lệ và đất nước của ông bị khai thác các nguồn tài nguyên, con người và khoáng sản – mặc dù chỉ việc đó cũng đủ tồi tệ, mà ở chỗ đời sống tinh thần của ông bị thương tổn đến mức không còn chút tự tin nào và phải gánh chịu phức cảm tự ti sâu sắc mà ông mang theo thậm chí đến ngày hôm nay khi đã là công dân của một đất nước tự do. Dù tự do, ông vẫn tin rằng người da trắng là ưu đẳng và đề cao người da trắng là đương nhiên trong mọi việc, ở mọi nơi” [16, tr. Jhumpa đã có sự đồng cảm đối với tất cả người Ấn Độ tha hương từ những cảm nghiệm về chính cuộc đời mình.
Sự liên hệ này phù hợp với quy luật “lá rụng về cội”, “nước chảy về nguồn” theo quan niệm của người phương Đông. Đây là cơ sở để chúng ta hiểu vì sao Jhumpa luôn dành tình cảm thiêng liêng đối với vùng đất mà bản thân cô chưa từng sinh sống. Tuy nhiên, sự ràng buộc họ hàng với Ấn Độ không đủ làm nên cái gọi là “nhà” (home) trong tâm thức của nhà văn Mỹ gốc Ấn, Jhumpa giải thích: “Tôi không lớn lên ở đó và không thuộc về nơi đó. Chúng tôi luôn về thăm nhưng chúng tôi không có nhà.
Chúng tôi đã cố bấu víu vào một thế giới đã không hoàn toàn là của mình” [68]. Trên thực tế, phần lớn cuộc sống của Jhumpa diễn ra ở Hoa Kỳ. Và tất nhiên, cô có tình cảm sâu nặng đối với đất nước này – một thiên đường cho những người nhập cư: “Tôi không sinh ra ở đây nhưng cuộc sống của tôi ở đây”; “Cha mẹ tôi không bao giờ coi đây là nhà nhưng tôi và chồng tôi coi nước Mỹ chính là quê hương mình” [58]. Việc nảy sinh tình cảm đối với “nơi ta ở” phù hợp với logic phát triển tâm lí của các thế hệ con cháu như Jhumpa, khi mà quê hương thứ nhất chỉ tồn tại bằng sự nhắc nhở của ông bà, cha mẹ.
Nhưng nói như thế không có nghĩa là Jhumpa Lahiri không trăn trở về tư cách công dân Mỹ của mình. Mặc dù hiến pháp của Hoa Kỳ công nhận quyền bình đẳng của con người nhưng tư tưởng kì thị của cộng đồng người da trắng đối với người da màu vẫn tồn tại. Đó là nguyên nhân khiến cho Jhumpa từ trong sâu thẳm tâm hồn vẫn cảm thấy là “người ngoài cuộc”, luôn băn khoăn đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: “Ta thuộc về đâu?”. Mức độ “chiếm hữu” của Ấn Độ và Hoa Kỳ đối với Jhumpa Lahiri là ngang nhau.
Mỗi bên đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng và Jhumpa đã biết cách kết hợp để dung hòa.