CHƯƠNG 1.1 Bối cảnh chính sách Khánh Hòa là một tỉnh ven biển nằm trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ1 (DHNTB) của Việt Nam, phía Bắc giáp với tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp với tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng, phía Nam giáp với tỉnh Ninh Thuận. Với vị trí địa lí thuận lợi và điều kiện tự nhiên ưu đãi, tỉnh Khánh Hòa được nhận định là có nhiều tiềm năng kinh tế để trở thành đầu tàu kéo theo sự phát triển của cả vùng bên cạnh thành phố Đà Nẵng thông qua việc được Bộ Chính trị định hướng xây dựng thành Thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2025: “Bộ Chính trị đồng ý chủ trương phấn đấu xây dựng tỉnh Khánh Hòa trở thành đô thị trực thuộc Trung ương, trong đó thành phố Nha Trang là hạt nhân, là trung tâm kinh tế - du lịch, khoa học và công nghệ, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, kinh tế du lịch và chăm sóc sức khỏe nhân dân của vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và của cả nước;…” (Nguồn: Báo Khánh Hòa, 2012) Để đạt được mục tiêu trên thì tỉnh Khánh Hòa cần phải duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian dài, qua đó mới có thể thu hút các nguồn lực tập trung phát triển để trở thành trung tâm kinh tế – văn hóa – giáo dục của khu vực. Tuy nhiên, giai đoạn gần đây thì nền kinh tế của tỉnh đã có nhiều dấu hiệu bất ổn. Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã chậm lại.
Trong giai đoạn 2001-2010 nền kinh tế của tỉnh có tốc độ phát triển khá nhanh với mức tăng bình quân GDP trong giai đoạn này là 10,7%, cao hơn 1,5 lần so với mức tăng trung bình cả nước là 7,3%. Tuy nhiên, giai đoạn 2011-2013 gần đây thì tốc độ tăng trưởng đã sụt giảm nhanh chóng, chỉ còn xấp xỉ 8,2%2. Thứ hai, năng suất tăng trưởng mờ nhạt biểu hiện qua chỉ số ICOR tăng3 và tiền lương danh nghĩa tăng nhanh hơn tốc độ tăng năng suất lao động4. Hệ số ICOR tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn để 1 Bao gồm các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.
2 Chi tiết ở phụ lục 1. 3 Chi tiết ở phụ lục 2. 4 Chi tiết ở phụ lục 3. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 tạo ra tăng trưởng thấp.
Năng suất lao động tăng chậm hơn tiền lương danh nghĩa sẽ làm cho chi phí sản xuất đắt đỏ và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế bằng giá sẽ ngày càng giảm. Thứ ba, lao động có xu hướng chuyển dịch sang khu vực có năng suất thấp. Năm 2012, số lượng lao động trong khu vực có năng suất cao nhất ở Khánh Hòa là công nghiệp giảm đi 8% so với năm 2008, trong khi lao động trong khu vực nông nghiệp có năng suất thấp nhất lại tăng hơn 23% (hình 2. Thứ tư, năng lực cạnh tranh (NLCT) trên bảng xếp hạng PCI luôn nằm ở mức khá và không có dấu hiệu tăng.
Năm 2008, thứ hạng tỉnh đạt được là 36 thì đến năm 2013 chỉ thăng được 2 bậc, lên thứ hạng 34/63 tỉnh thành. Những dấu hiệu bất ổn trên cho thấy nền kinh tế của tỉnh Khánh Hòa đang mất dần động lực phát triển và cần có một sự thay đổi mang tính chất đột phá trong phương thức sản xuất để tạo ra động lực mới. Do đó, cần thiết phải có sự thay đổi mô hình phát triển kinh tế, không nên dựa dẫm vào các lợi thế tự nhiên sẵn có, lao động giá rẻ hay đầu tư mà cần phải có những chính sách tập trung nâng cao năng suất lao động. Theo Porter (2008), năng suất là nhân tố quyết định quan trọng nhất của mức sống dài hạn và là nguyên nhân sâu xa của thu nhập bình quân đầu người.
Để tăng trưởng năng suất bền vững đòi hỏi nền kinh tế phải liên tục tự nâng cấp mình5. Vì vậy, tỉnh Khánh Hòa cần phải đánh giá lại NLCT của mình nhằm đưa ra những chính sách đầu tư tập trung hơn vào các lĩnh vực có NLCT cao để nâng cao năng suất, tạo ra động lực phát triển lâu dài cho nền kinh tế của tỉnh, qua đó nâng cao thu nhập và mang lại sự thịnh vượng cho người dân.2 Mục tiêu nghiên cứu Đề tài sẽ tiến hành phân tích các yếu tố quyết định NLCT của tỉnh Khánh Hòa để xác định những thế mạnh tạo nên động lực hay điểm yếu cản trở sự tăng trưởng của tỉnh. Dựa vào kết quả trên, đề tài sẽ nghiên cứu đề xuất các gợi ý chính sách nhằm khắc phục những điểm yếu và phát huy những thế mạnh nâng cao NLCT cho tỉnh Khánh Hòa.3 Câu hỏi nghiên cứu 1. NLCT của Tỉnh Khánh Hòa đang ở mức độ nào? 2.
Những chính sách nào cần thực hiện để nâng cao NLCT cho tỉnh Khánh Hòa? 5 Trích trong Vũ Thành Tự Anh và đ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên lý thuyết về NLCT của Michael E. Porter (2008) được chỉnh sửa bởi Vũ Thành Tự Anh (2013) cho phù hợp với điều kiện địa phương ở Việt Nam. Khái niệm có ý nghĩa nhất trong khung lý thuyết này về NLCT đó là khả năng sử dụng các nguồn lực sẵn có của địa phương một cách hiệu quả nhất, hay nói cách khác là năng suất sử dụng các nguồn lực như vốn, đất đai, con người, … sẽ là yếu tố tạo nên sự giàu có cho địa phương về mặt lâu dài.
Do đó, NLCT của một địa phương sẽ được quyết định bởi ba nhóm nhân tố: (i) Lợi thế tự nhiên sẵn có của địa phương, (ii) NLCT ở cấp độ địa phương và, (iii) NLCT ở cấp độ doanh nghiệp. Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ Tổng cục thống kê (TCTK), Cục thống kê (CTK) địa phương, thông tin từ các báo cáo hàng năm, báo cáo chuyên ngành của các sở ban ngành và các nghiên cứu có liên quan để đánh giá lợi thế của những nhóm nhân tố này.1 Các nhân tố quyết định NLCT của địa phương Nguồn: Porter (2008), được điều chỉnh bởi Vũ Thành Tự Anh (2013). Nhóm nhân tố (i) Lợi thế tự nhiên của địa phương bao gồm các yếu tố như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, diện tích, quy mô dân số của địa phương, … Nhóm nhân tố này là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 những đầu vào tự nhiên ảnh hưởng đến việc cạnh tranh của địa phương cũng như cho hoạt động của các doanh nghiệp trong địa phương đó (Vũ Thành Tự Anh và đ. Nhóm nhân tố (ii) NLCT ở cấp độ địa phương, hay còn gọi là NLCT ở cấp độ vĩ mô là những yếu tố tạo nên môi trường hoạt động cho doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế và các chính sách kinh tế của địa phương như chính sách tài khóa, tín dụng, cơ cấu kinh tế.
Ở phần này, tác giả sẽ sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê (NGTK) Việt Nam và Khánh Hòa, cùng với các báo cáo hàng năm của các cơ quan ban ngành trong tỉnh nhằm phân tích hiện trạng môi trường hoạt động cho các doanh nghiệp trong tỉnh. Nhóm nhân tố (iii) NLCT ở cấp độ doanh nghiệp, hay còn gọi là NLCT ở cấp độ vi mô bao gồm các yếu tố trình độ phát triển của cụm ngành, chất lượng môi trường kinh doanh và độ tinh vi của doanh nghiệp. Nhân tố môi trường kinh doanh sẽ được tác giả đánh giá thông qua chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ hợp tác nghiên cứu. Nhân tố trình độ phát triển cụm ngành sẽ được tác giả đánh giá dựa trên tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng so với cả nước, sự tập trung về mặt địa lý và tính liên kết giữa các doanh nghiệp trong cụm ngành thông qua dữ liệu thống kê thứ cấp về sản lượng, tốc độ tăng trưởng và các nghiên cứu khác có liên quan tới cụm ngành trong tỉnh Khánh Hòa.
Nhân tố hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp sẽ được tác giả phân tích dựa trên quy mô doanh nghiệp và những hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp nhằm đánh giá các điều kiện nội tại của doanh nghiệp như trình độ quản lý, chiến lược cạnh tranh, lao động có kỹ năng, … giúp cho doanh nghiệp có khả năng cải tiến năng lực để đạt được mức năng suất cao nhất.5 Cấu trúc của luận văn Luận văn sẽ bao gồm 5 chương. Chương đầu tiên giới thiệu bối cảnh chính sách, mục tiêu, câu hỏi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 trình bày thực trạng phát triển kinh tế của Khánh Hòa trong những năm vừa qua thông qua các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh tế - xã hội, mức năng suất và các chỉ tiêu trung gian khác. Chương 3 phân tích các yếu tố quyết định NLCT tỉnh Khánh Hòa, qua đó đánh giá mức độ NLCT của tỉnh Khánh Hòa.
Chương 4 đánh giá tiềm năng phát triển và tác động liên quan của các cụm ngành. Chương 5 sẽ kết luận và đưa ra các kiến nghị chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH KHÁNH HÒA 2.1 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển kinh tế 2.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu nhập bình quân đầu người Giai đoạn 2001-2013, nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng nhanh với tốc độ trung bình hàng năm là 10,1%, gấp rưỡi so với mức tăng trung bình của cả nước là 6,8%.
Trong đó, giai đoạn 2001-2010 GDP có tốc độ phát triển rất nhanh với mức tăng bình quân 10,7%/năm, sau đó suy giảm nhanh chóng trong giai đoạn từ 2011-2013, chỉ còn ở mức khoảng 8,2%.1 Tốc độ tăng GDP giai đoạn 2001-20136 14,00% 12,00% 10,00% 8,00% Khánh Hòa 6,00% Cả nước 4,00% 2,00% Nguồn: TCKT, NGTK Việt Nam các năm 2005, 2011, 2012, 2013 và CTK Khánh Hòa, NGTK các năm 2005, 2011, 2012 và Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa năm 2013. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh và có GDP bình quân đầu người cao hơn mức trung bình cả nước7, nhưng thu nhập bình quân đầu người của Khánh Hòa vẫn thấp hơn mức bình quân của cả nước. Năm 1999, thu nhập bình quân đầu người của Khánh Hòa 6 Năm 2002-2011 được tính dựa trên giá so sánh 1994, năm 2012-2013 dựa trên giá so sánh 2010. 7 Theo NGTK Việt Nam và Khánh Hòa năm 2012, GDP bình quân đầu người của Khánh Hòa là 39,3 triệu đồng/người và của cả nước là 36,6 triệu đồng/người (giá thực tế).