Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 1.1 Cơ sở lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 1.1 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế độ pháp lý quan trọng của luật HN&GĐ. Trải qua quá trình phát triển, chế độ tài sản của vợ chồng đã có những thay đổi đáng kể. Từ việc chỉ quy định chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản chung, đến nay với sự tác động của nền kinh tế thị trường đã thay đổi căn bản các quan hệ xã hội trong đó có quan hệ HN&GĐ, vì vậy Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm chế độ tài sản chung và tài sản riêng. Điều này sẽ đảm bảo được nhu cầu thiết yếu của gia đình, thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của vợ chồng để thực hiện các nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; chăm sóc và giáo dục con cái,… đều cần sử dụng đến tài sản chung của vợ chồng.
Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho mọi người có thể có thể tăng thu nhập cho bản thân và gia đình, vì vậy nhu cầu tài sản riêng của vợ chồng lúc này trở nên cần thiết để họ có thể chủ động trong việc quan hệ giao dịch với người khác trong xã hội mà không ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của gia đình. Do đó, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một trong những giải pháp có hiệu quả để giải quyết nhu cầu chính đáng của vợ chồng. Sự ảnh hưởng của phong tục, tập quán cũng như những tư tưởng phong kiến tồn tại trong thời gian dài trong đời sống gia đình của người Việt Nam nên tài sản chung của vợ chồng vẫn được hiểu theo nghĩa “của chồng công 8 z vợ”, chưa hề có sự phân định rạch ròi tài sản của mỗi bên vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Luật HN&GĐ năm 1959 không đề cập đến nội dung này.
Điều này xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội chi phối, quan hệ hôn nhân chịu ảnh hưởng bởi phong tập, tập quán nên trong Luật HN&GĐ năm 1959 xác định sở hữu chung của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản. Việc quy định chế độ tài sản này là hoàn toàn phù hợp với điều kiện xã hội lúc bấy giờ, phù hợp với tập quán gia đình truyền thống ở Việt Nam. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 1959 còn quá cô đọng, khái quát, chưa có quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời trong điều kiện kinh tế - xã hội đã phát triển hơn, do đó đã làm thay đổi căn bản nền kinh tế xã hội, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống gia đình.
Luật HN&GĐ đã có sự thay đổi lớn khi xác lập tài sản chung của vợ chồng dựa trên chế độ cộng đồng tạo sản. Quan hệ tài sản của vợ chồng tồn tại dưới hình thức tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ năm 1986 đã có một quy định mới khi mở rộng phạm vi chia tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, luật này đã dự liệu ba trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng bao gồm: khi một bên vợ chồng chết trước (Điều 17); khi vợ, chồng ly hôn (Điều 42) và trường hợp khi hôn nhân đang tồn tại nếu có lý do chính đáng (Điều 18).
Trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp tục ghi nhận quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 29 và Điều 30. Tuy nhiên, so với Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định cụ thể hơn về điều kiện, quyền yêu cầu và hậu quả pháp lý sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. 9 z Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã được quy định trong Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000, nhưng vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tác giả Phạm Thị Tươi đã đưa ra khái niệm về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau: “Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản vốn là tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng theo sự thỏa thuận của vợ chồng hoặc do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng khi có những lý do nhất định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan mà không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật” [46].
Khái niệm này đã chứa đựng đầy đủ bản chất của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài nghiên cứu trên, qua quá trình tìm hiểu hiện nay chưa có bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn đưa ra khái niệm về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng theo thỏa thuận hoặc do Tòa án quyết định trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác. Việc chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân và hậu quả của việc này không làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trước pháp luật”.
Kể từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời và có hiệu lực cho đến nay, các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã phát huy được hiệu quả, góp phần củng cố chế độ HN&GĐ Việt Nam; bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của vợ chồng, các thành viên trong gia đình và lợi ích của bên thứ ba.2 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tư tưởng chỉ đạo mang tính chi phối, định hướng cho mọi hoạt động và hành vi của các chủ thể tham gia vào việc giải quyết các vụ việc có liên quan đến yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Pháp luật hiện hành không có quy định gì về nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nên đã ít nhiều gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Trước đây Luật HN&GĐ năm 1986 quy định việc chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại được chia Điều 42 - Luật HN&GĐ năm 1986, tức là chia như khi ly hôn. Tuy nhiên Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định gì về nguyên tắc chia.
Căn cứ từ lý luận và thực tế cho thấy việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cần tuân thủ một số nguyên tắc nhất định. Theo chúng tôi, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo những nguyên tắc cụ thể sau: * Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng BLDS năm 2005 và Luật HN&GĐ năm 2000 cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác đều tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung. So với Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã có quy định mới cho phép vợ chồng có thể tự thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Đây là điểm khác so với BLDS Pháp và BLDS thương mại Thái Lan khi chỉ quy định việc chia tài sản chung phải được thực hiện qua con đường tư pháp, do Tòa án quyết định.
“Thỏa thuận” có nghĩa là “đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận” [51]. Theo đó, vợ chồng đã bàn bạc, thảo luận trước đó rồi mới đi đến sự đồng ý chia tài sản chung. Trong đó họ đã cân nhắc đến vấn đề như hậu quả sau khi chia, nghĩa vụ của mỗi người đối với con cái và các thành viên trong gia đình. Người thứ ba hoặc các chủ 11 z thể khác có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng đều không thể can thiệp đến thỏa thuận chia này.
Luật HN&GĐ hiện hành quy định việc thỏa thuận chia tài sản chung phải lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung như: lý do chia tài sản, phần tài sản chia, phần tài sản còn lại không chia (nếu có), thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung và những nội dung khác (nếu có). Điều này nhằm tránh việc vợ chồng thỏa thuận với mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với người khác. Ngoài ra, văn bản thỏa thuận chia tài sản chung có thể có người làm chứng hoặc được công chứng theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc theo quy định của pháp luật [4]. Bên cạnh đó, thực tế cho thấy khi có tranh chấp về tài sản xảy ra, pháp luật cho phép vợ chồng có thể thỏa thuận được với nhau về những vấn đề đang tranh chấp.
Đây là biện pháp hữu hiệu nhất để vợ chồng tránh được những bất đồng khi chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại hơn là việc yêu cầu tòa án giải quyết. Vợ chồng có thể thỏa thuận về hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã chia là sở hữu riêng của mỗi người hay là tài sản chung hoặc có thể thỏa thuận về thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của một bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng hay vẫn là tài sản chung. Với quy định này đã cho thấy sự tự do thỏa thuận của vợ chồng là hoàn toàn tuyệt đối về việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng. Như vậy Luật HN&GĐ năm 2000 rất đề cao nguyên tắc tự thỏa thuận khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.