đặt vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, an sinh xã hội được đảm bảo tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững. Vì vậy, đối với khoản vay đầu tư lớn, chiến lược có thời gian thu hồi vốn dài nên tiềm ẩn nhiều rủi ro, song lại mang lại hiệu quả xã hội lớn thì NHPT vẫn xem xét cho vay. Đối tượng cho vay được chọn lọc và hạn chế Do nguồn vốn dành cho đầu tư phát triển của Nhà nước là có hạn và NHPT được thiết kế là một kênh cung cấp tín dụng có hiệu quả của Nhà nước trên cơ sở thu hồi vốn cho vay nên đối tượng cho vay của NHPT hạn chế hơn các NHTM. NHPT không thực hiện cho vay dàn trải tất cả các dự án mà tập trung e vào những dự án mang tính chất cấp bách theo định hướng và chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước trong từng thời k.
Đặc điểm này cho thấy hoạt động cho vay đầu tư của NHPT mang tính chất tập trung vào mũi nhọn chứ không mang tính rộng khắp như hoạt động tín dụng của các NHTM. NHPT xem xét cho vay đầu tư các đối tượng là các dự án phát triển do Chính phủ quy định trong từng thời k. Dự án phát triển là dự án trực tiếp tạo ra các sản phẩm chiến lược, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của ngành, vùng, thúc đẩy quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế hoặc cơ cấu thu nhập của nhiều bộ phận dân cư. Các dự án phát triển nhằm làm giảm khuyết tật của thị trường, những nhân tố làm chậm quá trình phát triển: Việc hình thành và phát triển các công ty lớn, có tính độc quyền đã làm giảm tính cạnh tranh của thị trường.
Yêu cầu về hàng hóa công cộng nhằm đảm bảo phúc lợi cho đa số người dân không được thị trường đáp ứng tốt. Nhu cầu vốn lớn để phát triển những ngành kinh tế mới vượt quá khả năng huy động vốn của thị trường tài chính nhỏ bé, Do vậy, cần có sự can thiệp của Nhà nước nhằm mục tiêu phát triển với chi phí thấp nhất. Các dự án phát triển nằm trong kể hoạch phát triển kinh tế của quốc gia, có qui mô lớn, thời gian vận hành dài. Tại nhiều nước đang phát triển, dự án phát triển do Chính phủ quyết định và thực hiện, nó mang tính chất dự án công (nguồn tài trợ từ Chính phủ là chủ yếu).
Một số dự án do các tập đoàn kinh tế của Nhà nước hoặc tư nhân thực hiện có sự hỗ trợ của Nhà nước. Dự án phát triển có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, dự án phát triển là những dự án lớn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế quốc gia: - Dự án phát triển nhằm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia như: chiến lược công nghiệp hóa (phát triển các ngành công nghiệp, khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng KT-XH). - Khuyển khích xuất khẩu: Nhà nước hỗ trợ hoặc thực hiện các dự án chế biến hàng xuất khẩu, xây dựng các cơ sở nghiên cứu phục vụ trực tiếp cho xuất khẩu. e - Thay thế nhập khấu: Phát triển ngành sản xuất thay thế nhập khẩu bằng cách sử dụng tối đa lợi thế của đất nước, giảm chi ngoại tệ, tạo việc làm cho người lao động.
Nhà nước hỗ trợ ngành công nghiệp non trẻ trong giai đoạn đầu để cạnh tranh được với các hãng nước ngoài. - Ngành công nghiệp chiến lược: tạo nguyên liệu đầu vào quan trọng cho nhiều ngành kinh tế khác, hạn chế phụ thuộc vào nước ngoài. - Ngành sản xuất sản phẩm liên quan trực tiếp tới an ninh xã hội và quốc gia: hàng không, thủy điện, cung cấp nước sạch. - Dự án phát triển nông thôn: ngành chế tạo máy, cơ khí để phục vụ nông nghiệp và nông thôn, đường; giao thông, kênh tưới tiêu.
Thứ hai, dự án phát triển nhắm tới 2 mục tiêu: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Dự án thương mại nhằm mục tiêu duy nhất là gia tăng lợi nhuận. Dự án phát triển kết hợp hai mục tiêu hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Các dự án phát triển phải tạo ra thu nhập bù đắp chi phí và có lãi.
Do đó, các dự án này phải được xây dựng trên cơ sở tính toán hiệu quả tài chính trực tiếp. Khác với dự án thương mại, dự án phát triển phải thực hiện các mục tiêu xã hội như: phát triển cơ sở hạ tầng, thay đổi cơ cấu kinh tế. Thứ ba, dự án phát triển nhận hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước: Do tầm quan trọng đối với phát triển KT-XH, dự án phát triển thường nhận hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước, như được ngân sách cấp vốn, được vay ưu đãi, được Chính phủ bảo lãnh khi vay vốn. Cơ chế cho vay ưu đãi hơn hình thức cho vay thông thường - Ưu đãi về lãi suất: Khi thực hiện nhiệm vụ tín dụng đầu tư của Nhà nước, NHPT được Nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất.
Mức cấp bù được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa lãi suất hoà đồng các nguồn vốn với lãi suất cho vay và dư nợ vay tín dụng đầu tư của Nhà nước. Do đó, so với các NHTM, NHPT có ưu thế hơn về lãi suất cho vay. e - Ưu đãi về thời hạn vay vốn: Các NHTM thường ngần ngại khi cho vay đối với các dự án có thời hạn vay dài vì rủi ro cao và không tương thích với k hạn huy động thường có của họ trong khi hoạt động cho vay đầu tư tại NHPT thường có thời hạn vay vốn dài hơn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn trả nợ theo đúng chu k sinh lợi của dự án. - Ưu đãi về đảm bảo tiền vay: Khi vay vốn tại các NHTM, các đơn vị, đặc biệt là các doanh nghiệp mới, kinh doanh những mặt hàng có rủi ro cao phải có tài sản bảo đảm tiền vay với mức bằng hoặc cao hơn giá trị khoản vay.
Tuy nhiên, không phải đơn vị nào cũng có đủ tài sản để bảo đảm tiền vay khi vay vốn NHTM. Trong khi cho vay đầu tư của Nhà nước có cơ chế riêng về đảm bảo tiền vay, đó là chủ đầu tư được sử dụng giá trị tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm cho khoản vốn vay. Trừ trường hợp mà tài sản hình thành từ vốn vay không đảm bảo các điều kiện thì chủ đầu tư phải dùng các tài sản hợp pháp khác để đảm bảo tiền vay. Đối tượng cho vay có độ rủi ro cao Hoạt động cho vay đầu tư tại NHPT bên cạnh các ưu điểm nêu trên thì lại có độ rủi ro cao so với hoạt động tín dụng thông thường tại các NHTM.
NHPT thường cho vay theo chỉ định của Chính phủ, các dự án này thường có quy mô lớn, thời hạn dài và đặt mục tiêu hiệu quả xã hội lên trên hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế nhiều khi không có hoặc thấp. Các khoản vay này dễ trở thành các khoản nợ xấu và được khoanh, xoá nợ. Mặt khác, nguồn vốn của NHPT thường tập trung vào cho vay các dự án phát triển trung và dài hạn, đối tượng cho vay hạn hẹp. Các dự án phát triển phải đối mặt với rất nhiều rủi ro do những thay đổi ngoài dự kiến trong khi thị trường bảo hiểm còn kém phát triển, việc san sẻ rủi ro s bị hạn chế.
Khi một khoản cho vay đầu tư của ngân hàng gặp rủi ro, nó s tác động xấu đến thu nhập của ngân hàng. Việc cho vay với lãi suất ưu đãi cũng là một điểm bất lợi với NHPT, nó tác động đến cơ cấu thu nhập, làm tỷ lệ sinh lời thấp hơn so với các ngân hàng thương mại, ảnh hưởng đến việc tập trung nguồn vốn để tái đầu tư của ngân e hàng. Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng đầu tư tại NHPT sử dụng vốn Nhà nước để cho vay nên phải chấp hành các quy định về quản lý kinh tế, quản lý tài chính. rất chặt ch dẫn tới việc thiếu chủ động, linh hoạt trong hoạt động của ngân hàng.
Điều kiện cho vay chặt chẽ Bên cạnh việc tuân thủ các điều kiện cho vay như cho vay thương mại thông thường, các chủ đầu tư có dự án vay vốn đầu tư của NHPT phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện vay vốn theo quy định của Nhà nước, cụ thể: * Điều kiện cho vay đối với Dự án đầu tư: - Dự án thuộc danh mục các dự án vay vốn TDĐT của Nhà nước theo quy định hiện hành của Chính phủ về TDĐT của Nhà nước nhưng chưa được hưởng ưu đãi từ các tổ chức tài chính nhà nước khác. - Dự án được lập và trình duyệt theo quy định hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng, hồ sơ dự án đảm bảo đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ, chính xác và trung thực. - Dự án có hiệu quả về tài chính, có khả năng hoàn trả nợ vay trong thời hạn vay vốn của dự án, được NHPT thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay và quyết định cho vay. - Trường hợp dự án đã được quyết định đầu tư, hoặc dự án đang thực hiện đầu tư bằng các nguồn vốn khác, nếu có nhu cầu vay vốn đầu tư của Nhà nước thì NHPT có thể xem xét cho vay nếu dự án và chủ đầu tư đảm bảo điều kiện vay vốn theo quy định.
*/ Điều kiện cho vay đối với Chủ đầu tư: - Có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự đầy đủ. - Thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành. - Chủ đầu tư có dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, có hiệu quả, bảo đảm trả được nợ; được NHPT thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ và chấp thuận cho vay. e - Chủ đầu tư có vốn chủ sở hữu tham gia dự án tối thiểu 20% và phải bảo đảm đủ nguồn vốn để thực hiện dự án, các điều kiện tài chính cụ thể của phần vốn đầu tư ngoài phần vốn vay tín dụng đầu tư của Nhà nước.
- Chủ đầu tư không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng tại thời điểm NHPT xem xét cho vay, giải ngân vốn vay. - Chủ đầu tư thực hiện bảo đảm tiền vay theo các quy định của pháp luật. - Chủ đầu tư phải mua bảo hiểm tài sản tại một doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động hợp pháp tại Việt Nam đối với tài sản hình thành từ vốn vay thuộc đối tượng mua bảo hiểm bắt buộc trong suốt thời hạn vay vốn.