Chương 1 đã khái quát cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: Các khái niệm, các tiêu chí đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp và nguồn nhân lực của ngân hàng thương mại. Nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Theo Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (2001) cho rằng: “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất”[3]. Tác giả Phạm Minh Hạc (1996) nhìn nhận vấn đề nhân lực từ sự tổng hòa của hai yếu tố có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau là yếu tố trình độ (bao gồm thể chất, sức khỏe…) và yếu tố tinh thần (bao gồm trí tuệ và phẩm chất…).
Nguồn lực con người là “số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất”. Nhân lực là tổng thể về cả số lượng lẫn chất lượng những người lao động , cả khả năng về thể lực và trí lực của con người , các yếu tố về thể chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu nhất định về loại hình lao động tương ứng của một doanh nghiệp hoặc tổ chức. Nói cách khác, nguồn nhân lực là lực lượng lao động có những kỹ năng nhất định để thực hiện và hoàn thành công việc nhất định mà xã hội hay thị trường có nhu cầu. Cơ cấu nguồn nhân lực bao gồm tổng số người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động của họ.
Vai trò của nguồn nhân lực e 7 Nguồn nhân lực là khái niệm mà trong đó con người chính là nguồn lực để phát triển. Tuy nhiên, theo những cách tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu đề cập tới nguồn nhân lực với những góc nhìn và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kinh nghiệm, năng lực, kỹ năng và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của cá nhân và của đất nước.”- Đây là quan điểm được tổ chức Liên Hợp quốc nhận định Tổ chức ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm cả về thể lực lẫn trí lực và kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Với quan niệm này, nguồn nhân lực cũng được coi là một loại nguồn vốn.
Sự tham gia của nguồn vốn này trong quá trình sản xuất không như vốn bằng tiền, hay vốn công nghệ, tài nguyên, nguồn vốn đặc biệt này đặt bên cạnh các loại vốn kia nhưng mục đích là để khai thác sử dụng và duy trì các loại vốn vật chất đó. Nguyễn Ngọc Quân: “Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong một tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Đó là toàn bộ con người và các hành động của con người trong tổ chức đó tạo thành các hoạt động - phần không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của tổ chức [12, tr.8] Từ việc nghiên cứu các quan niệm trên, tác giả nhận định: Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người làm việc trong một tổ chức đó bằng trí lực và thể lực của họ. Thể lực và trí lực chính là khả năng tiềm ẩn trong mỗi con người.
Một tổ chức muốn hoạt động có hiệu quả thì cần phải biết biết phát triển, khai thác và duy trì các tiềm năng đó. Chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng là một khái niệm còn rất nhiều tranh cãi vì có nhiều góc nhìn cũng như quan điểm không giống nhau. Đối với từng lĩnh vực khác nhau thì lại có những quan điểm khác nhau về chất lượng.
e 8 Tiêu chuẩn VN 5814:1994 phù hợp với ISO 8402:1994: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn. Nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực có nhiều, nhưng các nghiên cứu đó đều không chỉ ra một cách cụ thể việc đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực cần phải sử dụng các tiêu chí nào, để nguồn nhân lực có chất lượng thì cần các điều kiện gì…Cũng chính vì thế, về chất lượng nguồn nhân lực có nhiều cách hiểu khác nhau, thường hay đánh đồng chất lượng nguồn nhân lực với trình độ chuyên môn và trình độ văn hóa của nguồn nhân lực. Nhưng trình độ chỉ là một yếu tố thể hiện chất lượng nguồn nhân lực, vì vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực. Một số quan điểm về chất lượng nguồn nhân lực: Theo GS.
Vũ Thị Ngọc Phùng thì: “ Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ” [11, tr. Theo quan điểm của tác giả thì chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực). Các tiêu chí này có thể đo lường được tương đối dễ dàng bằng định lượng hóa bằng các cấp bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn.TS Phùng Rân - Hiệu trưởng trường cao đẳng Viễn Đông (TP. HCM), chất lượng nguồn nhân lực được đo bằng 2 tiêu chí: là năng lực hoạt động của nguồn nhân lực và phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực đó[14, tr.
Năng lực hoạt động có được thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc, được đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và người thực hiện, kỹ năng giải quyết công việc. Năng lực chính là kết quả của đào tạo và giáo dục của cộng đồng chứ không phải riêng một tổ chức nào hết. Tuy nhiên, trách nhiệm lớn nhất thuộc về hệ thống giáo dục từ định hướng nghề nghiệp, kỹ thuật dạy nghề, các trường trung cấp chuyên nghiệp, các trường cao đẳng hay các trường đại học. Theo cách đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực của PGS.
Phùng Rân thì năng lực hoạt động của nguồn nhân lực thuộc về chuyên môn của nguồn nhân e 9 lực thông qua học tập, rèn luyện có thể đạt được và có thể điều chỉnh và đánh giá một cách dễ dàng. Còn tiêu chí thuộc về phẩm chất đạo đức rất khó đánh giá và điều chỉnh. Như vậy, có rất nhiều quan niệm của nhiều tác giả về chất lượng nguồn nhân lực. Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu các quan điểm của các nhà khoa học đi trước, nhận định một cách tổng quát về chất lượng nguồn nhân lực mà tác giả mạnh dạn đưa ra như sau: Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố tạo nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực trong mỗi tổ chức.
Đó là: - Trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực: là trạng thái thoải mái về mặt thể chất và tinh thần. - Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực: là chỉ tiêu được biểu hiện bằng trạng thái hiểu biết của nguồn nhân lực của tổ chức đối với kiến thức phổ thông về xã hội và tự nhiên (như số lượng nhân lực biết chữ, tỷ lệ nhân lực qua các lớp học. Trình độ văn hóa tạo ra khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học công nghệ vào các hoạt động trong tổ chức. - Trình độ chuyên môn kỹ thuật (tay nghề) của nguồn nhân lực: là khả năng thực hành, trạng thái hiểu biết về một chuyên môn nào đó tùy từng nghề nghiệp, được thể hiện bằng cơ cấu lao động đã qua đào tạo và chưa đào tạo; tạo nên phân cấp đào tạo (sơ cấp, trung cấp, cao cấp); cơ cấu lao động kỹ thuật và các nhà chuyên gia.
Chỉ tiêu này phản ánh được chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức, cùng khả năng áp dụng tiến bộ khoa học hiện đại vào các hoạt động. Đây cũng được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất. Vì vậy, trong phạm vi luận văn này chất lượng nguồn nhân lực là thuật ngữ thể hiện một tập hợp các đánh giá vềcác tiêu chí sau:, kỹ năng xử lý công việc, năng lực làm việc và thái độ trong công việc của nguồn nhân lực đang làm việc tại doanh nghiệp. Nhận định trên đã bao hàm thể lực trí lực và tâm lực.
Để chi tiết hơn thì ta hiểu rằng, các tiêu chí thể hiện được năng lực làm việc và kỹ năng xử lý công việc e 10 yêu cầu phải có trình độ, kiến thức chuyên môn, kỹ năng xử lý đã được đào tạo và thông qua trau dồi trong suốt quá trình thực hiện công việc. Đây được gọi là trí lực của nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nếu chỉ có trí lực mà lại không đủ sức khỏe, thể chất yếu ớt thì trí lực đó lại không có giá trị sử dụng. Nguồn nhân lực cần có sức khỏe kết hợp với trí lực thì mới thành năng lực làm việc.
Thái độ trong công việc của nguồn nhân lực gọi là tâm lực. Là tinh thần làm việc, khả năng chịu áp lực, khả năng tập trung, trạng thái cảm xúc trong khi làm việc được thể hiện qua tác phong, hành vi. Thái độ trong công việc còn thể hiện tình trạng sức khỏe cả thể chất và tinh thần của nguồn nhân lực. Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Có rất nhiều bài viết và nghiên cứu liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực, tuy nhiên các tác giả vẫn chưa thống nhất về việc đưa ra tiêu chí nào để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
Sau khi tham khảo qua một số tài liệu nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực, tác giả đưa ra các nhóm tiêu chí để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng thương mại. Các nhóm tiêu chí gồm: Trí lực, tâm lực và thể lực của nguồn nhân lực. Nhóm các tiêu chí này cần được xem xét trên góc độ quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực đối với mỗi tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong các ngân hàng thương mại. Trí lực Trí lực của nguồn nhân lực có thể bao gồm kiến thức chuyên môn, trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cũng như kinh nghiệm làm việc.
- Trình độ học vấn và kiến thức chuyên môn mà nguồn nhân lực có được chủ yếu qua đào tạo. Đó là sự trang bị về kiến thức chuyên môn cho nguồn nhân lực.