CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU VA CO SO LY LUẬN CHUNG VE HE THONG XEP HANG TIN DUNG CA NHAN TAI NGAN HANG THUONG MAI 1. TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU Để quản trị rủi ro tín dụng các ngân hàng thương mai can phải xây dựng. được hệ thống quản trị rũi ro xuyên suốt từ quy trình cấp tín dụng lành mạnh. đến hệ thống đo lưởng, theo dõi tín dụng phủ hợp và kiểm soát được rủi ro tin dụng.
Việc xây dựng hè thông xếp hang tin dụng khách hãng là việc cân thiết, từ kết quá đánh giả của hệ thẳng XHTD khách hàng giúp các NHTM có đánh giá và đưa ra mức cấp tin dụng phủ hợp với tửng khách hàng. Dựa trên kết quả xếp hạng tin dụng của khách hàng, ngân hàng có thể từ chối những khách hàng có mức điểm thấp. Do đó, sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ sẽ giúp tiết kiệm được thời gian, giảm bớt sự can thiệp từ con người và mang lại lợi ích cho cá ngân hàng và khách hàng. Bên cạnh đó, xếp hạng tín dung nội bộ còn là căn cử để ngân hàng đưa ra quyết đỉnh cấp tín dụng với khách hàng như cấp mới, bổ sung vốn tín dung hay có sự cảnh báo sớm để có biên pháp kịp thời đối với những khách hàng có mức xếp hạng tín dụng thấp.
Bên cạnh đó, XHTD nội bô còn là một căn cứ độc lâp để ngân hảng. đảnh giá quả trình quán trị rủi ro tin dụng của các bộ phân liên quan, đám bảo chức năng cấp tín dụng được quản lý phù hợp, hỗ trợ phát hiên sớm các khoản tin dung xu va các khoản tín đụng cỏ vẫn đề Xuất phát từ thực tiền trên, việc sử dụng vả nâng cấp hè thống XHTD. nôi bộ của các NHTM đã được rất nhiều tác giả lựa chọn để làm đề tài nghiên cứu trong một số nghiên cứu hay thão luận khoa học và một số bài bình luân trên các tạp trí khoa học như sau: Nam 1988, Ủy ban Basel đã ban hành Basel I đã dé cập đến các mô hình thiết lầp quy trinh quản lý rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, và được hoàn thiện thêm bằng Basel II (năm 2004). Trước sự diễn biển phức tap tử khủng hoảng tải chính toàn cầu, Ủy ban Basel một lẫn nữa dự thảo và thông qua phiên ban thir 3 (Basel ITI) vao nam 2010 về các tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu và 'Basel cũng đưa ra các nguyên tắc về rủi ro và an toàn trong hoạt động tin dụng, Nhìn nhân việc kiểm soát rủi ro tin đụng một cách chuẩn mực theo thông.
lẽ quốc tế, tác giả Lê Thị Hạnh (2017) đã chỉ ra rằng: hiện tại các NHTM Việt Nam đang phải đổi mặt với rất nhiều những rủi ro gây tổn thất nghiêm trong, đặc biệt là rủi ro tin dung. Cac NHTM Việt Nam đang dẫn tiếp cân tới các chuẩn mực quốc tế đưa vào quản lý rủi ro của mình, tiêu biểu lả việc áp đụng Hiệp ước. Basel II trong quan tri RRTD đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên việc áp dụng Hiệp óc Basel II trong quản trị RRTD tại các NHTM Việt Nam còn nhiễu hạn chế như: Quy trình cắp tin dung còn bắt cập, Hệ thông đo lưởng RRTD chưa đồng bộ.
Bài viết cũng đã chỉ ra căn nguyên của những hạn chế và tir do dua ra một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro tin dung trong kinh doanh và dẫn áp đụng các chuẩn mực quản tr rủi ro theo Hiệp vớc quốc tế Basel II tại các NHTM Việt Nam. Tác giả Lê Thị Thanh Tân và Đăng Thị Việt Đức (2016) đã đánh giá thực trạng hoạt đông xếp hang tin dụng thể nhân tại Trung tâm Thông tin Tỉn dụng Quốc gia Việt Nam, tử đó đưa ra đề xuất liên quan tới mô hình xếp hạng. và quy trình thu thập, trao đổi và đổi chiếu thông tin đầu vào của mô hình nhằm hoàn thiện hoạt động xếp hạng tin dụng thể nhân tại tổ chức nảy. Tác giả Trương Thị Hồng và Lẻ Thì Minh Ngọc (2014) cho rằng xếp hạng tín dụng khách hàng cá nhân để có cơ sở cấp tin dụng là một hoạt động thưởng xuyên của các NHTM.
Dù ở mỗi NHTM khác nhan, các tiếu chỉ chấm điểm, phân loại khách hàng cỏ thể không giống nhau hoàn toàn nhưng vẻ bản chất là như nhau. Mục đích cuối cùng các NHTM mong muốn là cấp tin đụng đúng đối tương và thu hồi được vốn và lãi khi đến hạn. Trong phạm vi bải viết nay nhóm tác giả mong muốn chỉ ra những han chế, những chỗ chưa hoàn thiện trên cơ sở đựa vào thực trang việc xếp han tin dung tại một số NHTM Việt Nam. Mặc dù có nhiều nghiên cửu về chú đề này, nhưng hầu như chura cỏ để tải nào đi sâu nghiên cửu về hoạt động chẩm điểm, xếp hạng tin dụng khách hàng cá nhân phủ hợp với những thay đối trong hoạt động kiểm soát nợ xâu và cung cấp, bảo cáo thông tin cho NHNN theo Thông tư 03/2013/TT-NHNN và “Thông tư 03/2013/TT-NHNN.
Đây là đề tải thực sự có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay, khi mã công tác quản trị rủi ro tin dụng trở thành một mỗi quan tâm. hãng đầu của các NHTM. 'Tử khi hinh thành đến nay, đã có nhiễn phương pháp và mô hình XHTD. được xây dựng và vận hành tứ những phương pháp cổ điển đánh giá bằng phương pháp định tính đến những phương pháp hiện đại như phương pháp thống kê hay phương pháp chuyên gia.
Tại Việt Nam, hệ thống XHTD nôi bộ tai các NHTM chỉ mới được sử dụng trong 10 năm trở lại đầy vả do còn tương. đổi mới mẻ nên các hệ thông XHTD cần được bổ sung và hoản thiện hơn để phủ hợp với điều kiện thực tế tại các NHTM tại Việt Nam Trên cơ sở khảo sát các công trỉnh nghiên cửu liên quan, các khoảng trồng chưa được nghiên cứu bao gồm: ~ Chưa có công trình nào đánh giá hoạt đông XHTD cá nhân tại BIDV, cập nhật đến 31/12/2019. ~ Chưa có công trỉnh não để xuất hè thổng giải pháp và kiển nghị một cách cỏ hệ thống để hoạt động XHTD cả nhân tại BIDV đạt mục tiêu và định hướng hoạt đông BIDV. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE XEP HẠNG TÍN DỤNG CẢ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Tổng quan về xếp hang tin dung 1. Khải niệm xếp hang tin dung Xếp hạng tín nhiệm (eredit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh (credit: sw tín nhiệm, ratings: sự xếp hạng) do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong cuồn "cẩm nang chứng khoản đường sắt” khi tiên hành nghiên cứu, phân tịch và công bố bảng xếp hạng tin nhiệm lần đầu tiên cho 1.500 loại trải phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cải ABC được xếp lần lượt là Aaa đến C (hiên nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tê). Tuy nhiên xếp hạng tin nhiệm chỉ phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 - 1933 khi hàng loạt các công ty vay nơ bị phả sản, vỡ nợ. “Thời kỷ nảy chính phủ Hoa Kỷ đã cỏ nhiều quy định về việc cẩm các định chế đầu tư (các quỹ hưu trí, các quỹ bảo hiểm, ngân hàng dự trữ) bỏ vốn đầu tư mua trải phiến cỏ độ tin cậy thấp đưới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín nhiêm.
Những quy định nảy đã lâm cho uy tin của các công ty xếp hạng tin nhiêm ngày một lên cao. Song trong suốt hơn 50 năm, việc xếp hạng tín nhiệm chỉ được phổ. biển ở Mỹ, chỉ từ những nãm 1970 đến nay, dịch vụ xếp hang tín nhiễm mới được mở rộng và phát triển khá mạnh ở nhiều nước. Ở Việt Nam thuật ngữ Credit Ratings được địch ra với nhiều nghĩa như xếp hang tín nhiêm, xếp hang tin dụng, đảnh giá tín nhiêm, định mức tin nhiệm.
Trong phạm vi khóa luận này được sử dụng với tên gọi *xếp hạng tin dụng”. XHTD được nhin nhận đưới nhiên góc độ khác nhau: Theo Standards & Poor p hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lượng tin dung, kha nang va thién ý của chủ thé đi vay trong việc đáp ứng các nghữa vụ tài chính một cách đây đủ vả đúng hạn”. Theo Moody's: “Xép hang tin dụng là những ÿ kiến đảnh giá về chất lượng tin dụng và khả năng thanh toản nợ của chú thể đi vay dựa trên những. phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thông ký hiệu từ Aaa cho đến CP.
“Theo viên nghiên cửu Nomura: *XHTD là sự đảnh giả hiện thời về mức độ sẵn sảng và khá năng chỉ trả gốc vả lãi đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thởi gian tôn tại của chứng khoán đỏ”. “Theo công ty chứng khoản Menill Lynch: *XHTD là đánh giả hiện thởi của công ty xếp hạng tín nhiệm về chất lượng tín dụng của mét nha phat hành. chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định" Các khái niêm trên mặc dù nội dung không hoàn toản đồng nhất, song cỏ thể thấy đều có những điểm chung cơ bản: (1) Mục tiêu xếp hang: tin dụng là đảnh giá khả năng và thiên chi trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chỉnh của đối tượng được xếp hang: (2) về nội dung xếp hạng: tổ chức xếp hạng sử dụng các thông tin cần thiết của khách hàng để phân tích, đánh giả khả năng dap img nghĩa vụ tài chính và xếp hang khách hàng. Như vậy có thể hiểu XHTD cỏ nghĩa là việc phân loại, sắp xếp một đổi tượng vào các nhóm khách hàng trên cơ sở đo lưởng rủi ro tín dụng.
Hệ thống XHTD dùng để đánh giá mức đô tín nhiệm đổi với trách nhiệm tải chỉnh của cả hai nhóm khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhãn. Để thực hiện XHTD khách hàng, các tổ chức xếp hạng thực hiên chấm điểm tín dụng khách hàng, trên cơ sở mức điểm khách hàng để phân loại khách hàng vào hạng phù hợp. Bản chất của việc xếp hạng tín dụng lả đảnh giá, lượng hóa rủi ro tín dụng của khách hàng vay nợ. Mức độ RRTD sẽ thay đổi theo từng đối tợng khách hãng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng các thang điểm, dựa vào các thông tin tải chính và phi tài chỉnh có sẵn của khách hảng tại thời điểm chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng.
Trong phạm vi luận văn tác giả tập trung phân tích vả nghiên cửu hé thông XHTD dành cho nhỏm khách hàng cá nhân.