Chương 1 CƠ SỞ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 1. CƠ SỞ KHÁCH QUAN DẪN TỚI PHẢI CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Bộ máy hành chính nhà nước là bộ máy trực tiếp thực thi quyền hành pháp, tổ chức và điều hành mọi hoạt động trong đời sống xã hội theo pháp luật. Đó là bộ phận năng động nhất và thực hiện trực tiếp nhất chức năng QLNN. Do đó, CCHC được coi là nội dung trọng tâm trong cải cách bộ máy nhà nước.
CCHC xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Thực trạng nền hành chính nhà nước Nền hành chính nhà nước là một cơ cấu phức tạp, bao gồm các yếu tố: thể chế pháp lý, tổ chức, nhân sự và tài chính công. Nó là chiếc cầu nối quan trọng giữa Đảng cầm quyền, Nhà nước với nhân dân, trực tiếp thực hiện chức năng quản lý công việc hàng ngày của Nhà nước, thường xuyên tiếp xúc với dân, giải quyết các yêu cầu của dân. Đồng thời, nền hành chính nhà nước là nơi biểu hiện trực tiếp nhất, rõ nhất, tập trung nhất những ưu việt của chế độ, cũng như những nhược điểm, khuyết điểm của bộ máy nhà nước.
Hiện nay, Chính phủ các nước phải tiến hành cải cách là do nền hành chính đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành cũng như phục vụ xã hội. Vì vậy, các Chính phủ phải nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để khắc phục những hạn chế đó nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động hành chính nhà nước. Ở nước ta, nền hành chính nhà nước còn mang nặng dấu ấn của cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế quản lý mới cũng như yêu cầu phục vụ nhân dân trong điều kiện mới, hiệu lực hiệu quả QLNN chưa cao. Điều đó thể hiện ở một số điểm sau đây: 15 z Chức năng, nhiệm vụ QLNN của bộ máy hành chính trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ ràng và phù hợp.
Sự phân công, phân cấp giữa các ngành và các cấp chưa thật rành mạch; Hệ thống thể chế hành chính chưa đồng bộ, còn chống chéo và thiếu thống nhất. TTHC trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp, trật tự kỷ cương chưa nghiêm; Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, phương thức quản lý vừa tập trung quan liêu vừa phân tán, chưa thông suốt, chưa có những cơ chế chính sách tài chính thích hợp với hoạt động của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ công; Đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính. Phong cách làm việc chậm đổi mới, tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân còn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, công chức; Bộ máy hành chính tại các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó với nhân, không nắm chắc được các vấn đề nổi cộm trên địa bàn, lúng túng bị động khi xử lý các tình huống phức tạp [6, tr. Từ thực trạng nêu trên, công cuộc đổi mới ở nước ta đang đòi hỏi phải củng cố và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và đặt ra yêu cầu đổi mới đối với nền hành chính nhà nước.
Nhân dân đòi hỏi và mong muốn được thực hiện quyền làm chủ một cách hợp pháp và đầy đủ, được làm ăn, sinh sống trong một môi trường an ninh, trật tự, dân chủ, không bị phiền hà, sách nhiễu. Sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường trong thời kỳ mới đòi hỏi Nhà nước mà trực tiếp là nền hành chính phải hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực pháp lý theo cơ chế mới để đảm bảo cho đất nước phất triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự mở rộng quan hệ đối ngoại đa phương, đa dạng đòi hỏi thể chế hành chính và 16 z đội ngũ cán bộ, công chức phải thích ứng với pháp luật và trình độ quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia. Khủng hoảng kinh tế Suy thoái kinh tế và việc mở rộng sự tham gia của Nhà nước trong cung cấp các dịch vụ công và đảm bảo phúc lợi xã hội ở các nước phát triển thời kỳ cuối những năm 70 đã đẩy hầu hết các nước phát triển vào cuộc khủng hoảng tài chính công.
Từ những năm 1980, yêu cầu tái thiết nền kinh tế và tăng cường vai trò định hướng của Nhà nước đối với sự phát triển đòi hỏi chính phủ các nước phải không ngừng mở rộng chức năng của mình dẫn đến bộ máy phình to và áp lực tài chính ngày càng nặng nề. Sự thâm hụt ngân sách đặt các quốc gia trước hai lựa chọn là giảm bớt số lượng dịch vụ công cần cung cấp hoặc tăng thuế. Mặc dù suy giảm kinh tế nhưng chi tiêu công ở nhiều nước vẫn tiếp tục tăng dẫn tới mất cân đối cung - cầu dẫn tới suy thoái kinh tế kèm theo giảm hiệu quả kinh tế và hiệu quả hoạt động của cả bộ máy. Điều đó cho thấy một Nhà nước lớn về quy mô không hẳn đã đồng nghĩa với một nhà nước hoạt động hiệu quả và một nhà nước hiệu quả phải là một nhà nước làm nhiều hơn với chi phí ít hơn.
Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng trở thành động lực thúc đẩy cải cách ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đòi hỏi của người dân trong xã hội dân chủ Trong môi trường xã hội dân chủ, người dân đòi hỏi và mong muốn được thực hiện quyền làm chủ hợp pháp một cách đầy đủ, được yên ổn sinh sống, làm ăn trong môi trường an ninh, trật tự và dân chủ, không bị phiền hà, sách nhiễu. Hành chính nhà nước phải phát huy dân chủ cơ sở, thu hút sự tham gia của người dân vào quản lí nhà nước và phải công khai, minh bạch trong các hoạt động của mình. Khi xã hội càng phát triển, trình độ dân trí ngày càng cao và những đòi hỏi mở rộng dân chủ ngày càng cấp bách, việc xây dựng một nền hành chính có hiệu lực, hiệu quả, coi công dân là khách hàng, coi phục vụ công dân và xã hội là đòi hỏi tất yếu và là mục tiêu chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
17 z Trong tiến trình CCHC nhà nước, vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến là mối quan hệ giữa nhà nước và công dân được xác lập trên nguyên tắc nào và nhà nước làm gì để đáp ứng nhu cầu của công dân. Một số nước đã và đang áp dụng các nguyên tắc lấy công dân làm trung tâm của mọi hoạt động và việc đáp ứng đòi hỏi của công dân là mục tiêu quan trọng trong mọi chiến lược cải cách. Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ một nền hành chính "cai trị" sang nền hành chính "phục vụ dân" là một quá trình khó khăn mà trước hết cần thay đổi tư duy về vai trò của nhân dân. Tăng cường sự tham gia của nhân dân vào QLNN, tạo ra hệ thống quản lý mở, tạo cơ hội để nhân dân có thể bày tỏ quan điểm của mình để hoàn thiện các chính sách, quyết định nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hành chính công.
Do sự phát triển của khoa học công nghệ Những thành tựu của khoa học và công nghệ (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…) đã tác động mạnh mẽ đến quá trình quản lý. Hiện đại hóa nền hành chính trên thế giới đang được thực hiện bằng việc trang bị các thiết bị kỹ thuật hiện đại như: máy tính, máy Fax, điện thoại vào các hoạt động hành chính, nhất là hoạt động hành chính - văn phòng và thông tin điều hành nhằm đảm bảo thu thập, xử lý và truyền thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác và thuận lợi. Ngoài ra, nhiều quốc gia trên thế giới hướng tới việc xây dựng chính phủ điện tử (E-Government) hoặc chính phủ kỹ thuật số (D-Government). Thông qua Chính phủ điện tử sẽ cung cấp các loại thông tin của chính phủ cho công dân, các doanh nghiệp ngay tại cổng Internet; Thực hiện trao đổi thông tin giữa chính phủ và công dân, các nhà doanh nghiệp, các tổ chức khác thông qua mạng dưới hình thức: thư điện tử (e.mail); hội nghị trực tuyến (video-conference); đường dây nóng qua Internet; Cung cấp các loại dịch vụ (dịch vụ hành chính/ pháp lý) cho công dân, doanh nghiệp qua mạng Internet: đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép lái xe; đăng ký, kê khai, nộp thuế; trả thanh toán các dịch vụ khác; đơn đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn.
Điều 18 z đó đòi hỏi Nhà nước buộc phải cải cách nền hành chính, sắp xếp lại bộ máy, đổi mới phương pháp quản lí để theo kịp những tiến bộ chung của thế giới. Xu hướng toàn cầu hóa Vào những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX làn sóng toàn cầu hóa bắt đầu xuất hiện. Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và tạo ra những bước tiến nhảy vọt dưới sự tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ. Điều này thúc đẩy phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển nhanh chóng mậu dịch quốc tế, đầu tư và tích tụ tập trung tư bản trên phạm vi toàn cầu dẫn tới hình thành nền kinh tế thế giới nhất thể hóa, toàn cầu hóa hiện nay.
Toàn cầu hóa tạo ra những quan hệ gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau trong các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, đem lại những thuận lợi trong thương mại, dịch vụ, đầu tư, chuyển giao công nghệ, giao lưu kinh tế, hỗ trợ cho các quốc gia trong việc tham gia vào nền kinh tế toàn cầu. Toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội to lớn cho các quốc gia đang phát triển trong việc rút ngắn khoảng cách về kinh tế nhưng cũng sẽ xuất hiện các vấn đề xã hội chênh lệch giàu nghèo giữa các quốc gia, môi trường bị hủy hoại, bất bình đẳng xã hội gia tăng. Toàn cầu hóa tác động đến toàn bộ nền kinh tế và QLNN của tất cả các quốc gia dẫn tới các thể chế toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực dần dần được hình thành, làm cơ sở cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các tổ chức toàn cầu và mối quan hệ kinh tế xã hội toàn cầu.