Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: các yếu tố tác động đến rủi ro mất khả năng

Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh toán của ngân hàng thương mại, đề xuất giải pháp quản trị rủi ro hiệu quả.

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

TÓM TẮT LUẬN VĂN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu của đề tài

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

1.6. Nội dung nghiên cứu

1.7. Đóng góp của đề tài

1.8. Kết cấu của đề tài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. Lý thuyết về rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM

2.1.1. Khái niệm rủi ro

2.1.2. Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

2.1.3. Rủi ro mất khả năng thanh toán của Ngân Hàng Thương Mại

2.1.3.1. Khái niệm rủi ro mất khả năng thanh toán ngân hàng thương mại
2.1.3.2. Ảnh hưởng của rủi ro mất khả năng thanh toán
2.1.3.3. Đo lường rủi ro mất khả năng thanh toán

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM

2.2.1. Lý thuyết Too-big-to-fail

2.2.2. Lý thuyết người đại diện

2.2.3. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn

2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM

2.2.4.1. Yếu tố bên trong
2.2.4.2. Yếu tố bên ngoài

2.3. Lược khảo các nghiên cứu có liên quan

2.3.1. Các nghiên cứu nước ngoài

2.3.2. Các nghiên cứu ở trong nước

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1. Mô hình nghiên cứu

3.1.1. Mô hình nghiên cứu

3.1.2. Giới thiệu biến và hiệu chỉnh mô hình

3.1.2.1. Biến phụ thuộc
3.1.2.2. Các biến độc lập Xjit và đo lường biến

3.1.3. Giả thuyết nghiên cứu

3.2. Thiết kế nghiên cứu

3.3. Thu thập và xử lý số liệu

3.3.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

3.4. Phương pháp ước lượng

3.4.1. Thống kê mô tả

3.4.2. Phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (Pooled OLS)

3.4.3. Phương pháp tác động cố định (Fixed Effect – FEM)

3.4.4. Phương pháp tác động ngẫu nhiên (Random Effect – REM)

3.4.5. So sánh giữa phương pháp Pooled OLS và phương pháp FEM

3.4.6. So sánh giữa phương pháp REM và phương pháp FEM

3.4.7. Kiểm định đa cộng tuyến

3.4.8. Kiểm định phương sai thay đổi

3.4.9. Kiểm định tự tương quan

3.5. Phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (General Least Square – GLS)

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thống kê mô tả dữ liệu

4.2. Tương quan các biến trong mô hình và đa cộng tuyến

4.2.1. Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến Pearson

4.2.2. Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình bằng nhân tử phóng đại phương sai VIF

4.3. Phân tích lựa chọn mô hình nghiên cứu

4.3.1. Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled và mô hình dữ liệu bảng FEM

4.3.2. Kiểm định lựa chọn mô hình FEM và mô hình dữ liệu bảng REM

4.4. Kiểm định các khiếm khuyết định lượng

4.4.1. Kiểm định phương sai của sai số không đổi

4.4.2. Kiểm định tự tương quan

4.5. Tổng hợp kết quả kiểm định

4.6. Kết quả kiểm định độ phù hợp của các biến bằng phương pháp GLS

4.7. Thực trạng và thảo luận kết quả nghiên cứu

4.7.1. Chỉ số z – phản ánh rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM

4.7.2. Tác động của biến CAP đến chỉ số Z

4.7.3. Tác động của biến SIZE đến chỉ số Z

4.7.4. Tác động của biến LLR đến chỉ số Z

4.7.5. Tác động của biến LDR đến chỉ số Z

4.7.6. Tác động của biến STATEOWN đến chỉ số Z

4.7.7. Tác động của biến GDP đến chỉ số Z

5. CHƯƠNG 5: HÀM Ý VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Kiến nghị các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro mất khả năng thanh toán trong hệ thống NHTM Việt Nam trong thời gian tới

5.1.1. Gia tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản

5.1.2. Gia tăng quy mô NHTM

5.1.3. Đưa ra mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng phù hợp

5.1.4. Điều hòa thanh khoản

5.1.5. Tăng cường vai trò của các NHTM có vốn Nhà nước

5.1.6. Tăng trưởng tín dụng phù hợp với tăng trưởng GDP

5.2. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC CÁC NGÂN HÀNG LỰA CHỌN NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cách phân tích yếu tố tác động đến rủi ro mất khả năng thanh toán ngân hàng

Bài viết giới thiệu phương pháp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại dựa trên mô hình CAMELS, lý thuyết Too-big-to-fail, và các chỉ số tài chính như Z-Score. Phương pháp này giúp xác định rõ đâu là những thành phần chính dẫn đến rủi ro và cách đo lường hiệu quả nhất để dự báo sớm các nguy cơ phá sản ngân hàng, từ đó có giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo sự ổn định hệ thống tài chính.

1.1. Phương pháp phân tích yếu tố theo mô hình CAMELS

Mô hình CAMELS giúp đánh giá 6 tiêu chí: vốn, chất lượng tài sản, quản lý, lợi nhuận, thanh khoản và độ nhạy cảm rủi ro đối với thị trường. Công cụ này có khả năng đo lường chính xác tình trạng của ngân hàng thông qua các chỉ số tài chính định lượng và định tính, từ đó xác định các yếu tố có thể tác động tiêu cực hoặc tích cực đến rủi ro mất khả năng thanh toán.

1.2. Giải pháp dựa trên mô hình Z Score trong dự báo rủi ro

Chỉ số Z-Score thể hiện mức độ ổn định của ngân hàng và khả năng dự báo mất khả năng thanh toán dựa vào các biến số như ROA, vốn chủ sở hữu, và lợi nhuận ròng. Phương pháp này giúp các nhà quản lý và nhà đầu tư phân tích nhanh chóng các yếu tố nội tại ngân hàng ảnh hưởng đến khả năng tồn tại trong dài hạn, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp để giảm thiểu rủi ro.

II. Hướng dẫn xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động ngân hàng thương mại

Chương này trình bày các yếu tố nội tại và yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mất khả năng thanh toán của ngân hàng. Dựa trên lý thuyết và các nghiên cứu thực tiễn, các yếu tố như đòn bẩy tài chính, chất lượng tài sản, quy mô ngân hàng, khả năng sinh lời, và tác động của môi trường vĩ mô được phân tích rõ ràng nhằm giúp xác định các yếu tố có mức độ tác động mạnh nhất, từ đó đề xuất các biện pháp kiểm soát phù hợp.

2.1. Vai trò của yếu tố nội tại trong phân tích rủi ro ngân hàng

Các yếu tố như khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, quy mô ngân hàng và năng lực quản lý đóng vai trò quyết định trong việc xác định rủi ro mất khả năng thanh toán. Phân tích dựa trên mô hình CAMELS cho phép định lượng các yếu tố này, qua đó giúp các ngân hàng tập trung vào các điểm yếu cần khắc phục để duy trì sự ổn định tài chính.

2.2. Tác động của yếu tố ngoại cảnh như môi trường kinh tế vĩ mô

Các yếu tố như tăng trưởng GDP, lạm phát, chính sách tiền tệ, và ổn định chính trị ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh khoản và rủi ro tài chính ngân hàng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, trong bối cảnh kinh tế bất ổn, rủi ro mất khả năng thanh toán thường gia tăng, đòi hỏi các ngân hàng phải có các biện pháp dự phòng phù hợp để giảm thiểu ảnh hưởng xấu từ bên ngoài.

III. Các giải pháp tối ưu dự phòng rủi ro mất khả năng thanh toán qua phân tích mô hình định lượng

Ngoài việc sử dụng các mô hình dự báo như Z-Score và CAMELS, các nghiên cứu khuyến nghị cần thiết thực hiện các biện pháp như duy trì vốn dự phòng phù hợp, kiểm soát tỷ lệ đòn bẩy, nâng cao chất lượng tín dụng, và kiểm soát tốt dòng tiền ra vào. Thực tế, việc xác định các chỉ số cảnh báo sớm giúp ngân hàng chủ động trong xử lý rủi ro và giảm thiểu khả năng mất khả năng thanh toán do các yếu tố nội tại hay ngoại cảnh gây ra.

3.1. Quy trình xây dựng bộ chỉ số dự phòng rủi ro hiệu quả

Xây dựng bộ chỉ số gồm các yếu tố đã được xác định qua mô hình CAMELS và Z-Score, đồng thời tích hợp các chỉ tiêu vĩ mô như GDP, lạm phát để dự báo xu hướng. Quá trình này giúp ngân hàng có đủ nguồn lực và kế hoạch hành động phù hợp trong các tình huống rủi ro phát sinh bất ngờ.

3.2. Ứng dụng thực tiễn qua các chính sách kiểm soát rủi ro

Áp dụng các nguyên tắc quản lý dự phòng, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, đa dạng hóa danh mục, và duy trì các tỷ lệ an toàn vốn phù hợp giúp hạn chế tối đa rủi ro mất khả năng thanh toán. Phương pháp này giúp giữ vững tín nhiệm của thị trường và sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

IV. Kết quả ứng dụng mô hình dự báo rủi ro trong thực tiễn ngân hàng Việt Nam

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, việc áp dụng mô hình Z-Score và CAMELS trong dự báo giúp các ngân hàng Việt Nam nhận diện sớm các yếu tố nội tại, như tỷ lệ tín dụng trên tổng tài sản, chất lượng cho vay, và khả năng sinh lời, có ảnh hưởng lớn đến khả năng mất khả năng thanh toán. Kết quả giúp các đơn vị chủ động các giải pháp quản lý, hạn chế rủi ro và củng cố vị thế tài chính trong bối cảnh nền kinh tế biến động.

4.1. Các chỉ số cảnh báo sớm phù hợp cho ngân hàng Việt Nam

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ xấu, đòn bẩy tài chính, và khả năng sinh lợi là những chỉ số mạnh nhất phản ánh nguy cơ mất khả năng thanh toán. Việc kiểm soát tốt các chỉ số này giúp ngân hàng duy trì hoạt động ổn định, tránh rủi ro lớn đe dọa đến tồn tại của ngân hàng.

4.2. Khuyến nghị về chính sách dự phòng và quản trị rủi ro

Áp dụng mô hình dự báo phù hợp, duy trì vốn dự phòng cao hơn mức tối thiểu, và nâng cao năng lực quản lý tín dụng là các giải pháp thiết thực. Ngoài ra, cần phối hợp tốt chính sách vĩ mô với các biện pháp nội tại ngân hàng để phù hợp với tình hình biến động chung của nền kinh tế Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

13/10/2025
Luận văn thạc sĩ các yếu tố tác động đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành các chương như sau: CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 5: HÀM Ý VÀ KHUYẾN NGHỊ 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Giới thiệu chương 2 Nội dung chính của chương này là trình bày những cơ sở lý thuyết về rủi ro, rủi ro mất khả năng thanh toán dẫn đến hiện tượng phá sản ngân hàng và một số chỉ tiêu đo lường rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM. Đồng thời để làm sáng tỏ và tin cậy hơn về cơ sở lý thuyết, tác giả sẽ đưa vào bài một số nghiên cứu trước đây có liên quan mật thiết đến các yếu tố tác động đến rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng. Từ đó tác giả có thể tìm ra được khung lý thuyết dựa trên nền tảng lý thuyết và bài nghiên cứu có sẵn để có thể hướng đến mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu của đề tài.1 Lý thuyết về rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM 2.1 Khái niệm rủi ro Rủi ro là một khái niệm phổ biến, hầu như ai cũng có thể biết đến phạm trù này. Tuy nhiên lại không có một quan điểm thống nhất nào về rủi ro.

Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, có thể kể đến như: Allan Willett cho rằng “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”, quan điểm này nhận được sự ủng hộ của một số học giả như: Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Klup, Anghell….Trong một số nghiên cứu của John Haynes và được nhắc lại một lần nữa trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế của Irving Pfeffer thì rủi ro là: “Khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”. Tuy nhiên, quan điểm được xem là hiện đại và nhận được sự đồng tình cao là của Frank H. Knight: “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được”.

Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng nó cùng đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: “Rủi ro là sự không chắc chắn và là khả năng xảy ra kết quả không mong muốn. Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn. Và kết quả này có thể đem lại tổn thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro.2 Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Theo Amalendu Ghosh (2012), “Rủi ro ngân hàng là tổn thất tiềm năng mà ngân hàng gặp phải do một hoặc một số sự kiện xảy ra. Rủi ro phát sinh do sự xảy ra không chắc chắn của các sự kiện liên quan mà sự kiện này có nguy cơ gây ra thiệt hại cho ngân hàng”.

Khi xét đến rủi ro trong ngân hàng, ta quan tâm đến khả năng mất mát hoặc giảm sút giá trị tài sản từ các sự kiện liên quan như nền kinh tế kém tăng trưởng, chính sách tài chính thay đổi, giao dịch diễn ra không thuận lợi, lãi suất hoặc tỷ giá biến động tiêu cực, giá cổ phiếu giảm,….Nếu một khi rủi ro xảy ra liên tiếp, ở mức độ lớn và phạm vi rộng rủi ro tạo thành chuỗi, thành sóng thì cả về mặt thực tế và lý thuyết vĩ mô đều chứng minh, khi đó hiệu ứng domino sẽ xảy ra nhanh chóng trên các thị trường tín dụng, chứng khoán, bất động sản, thương mại…….và ngân hàng bị phá sản, thị trường tài chính ngân hàng sụp đổ, phá vỡ sự ổn định của hệ thống.3 Rủi ro mất khả năng thanh toán của Ngân Hàng Thương Mại 2.1 Khái niệm rủi ro mất khả năng thanh toán ngân hàng thương mại Rủi ro mất khả năng thanh toán (probability of insolvency) là một trong những rủi ro được đề cập trong giai đoạn gần đây đặc biệt khi các cuộc khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu nói chung và từng khu vực nói riêng liên tiếp xảy ra. Tuy nhiên khái niệm về rủi ro mất khả năng thanh toán vẫn chưa được đề cập phổ biến trong các nghiên cứu. Theo Lastra và Schiffman (1999), tình trạng mất khả năng thanh toán có thể được định nghĩa bằng hai cách. Thứ nhất, đó là sự thất bại trong việc hoàn trả những nghĩa vụ tài chính khi đến hạn.

Thứ hai, đó là tình trạng khoản mục nợ phải trả vượt quá tài sản trên bảng cân đối kế toán. Như vậy có thể hiểu rằng rủi ro mất khả năng thanh toán là một biến cố bất ngờ xảy ra khi một cá nhân hoặc một tổ chức không thể thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình đối với bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Rủi ro này thường có thể dẫn đến việc phá sản của tổ chức. Đối với ngành ngân hàng, rủi ro mất khả năng thanh toán xuất hiện khi ngân hàng mất khả năng chi trả các khoản nợ khi đến ngày đáo hạn.

Các ngân hàng lúc này sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ về tài chính và đi đến việc phá sản hoặc hợp nhất, sáp nhập với ngân hàng khác nhằm tạo ra một ngân hàng mới vững mạnh hơn và bảo vệ quyền lợi của người cho vay. Rủi ro mất khả năng thanh toán khác với rủi ro thanh khoản bởi rủi 10 ro thanh khoản chỉ tình trạng nhất thời ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các tài sản ra tiền để đáp ứng nghĩa vụ nợ. Rủi ro thanh khoản không dẫn đến việc phá sản hay hợp nhất, sáp nhập ngân hàng. Khái niệm phá sản thường được hiểu: (1) là tình trạng một tổ chức kinh doanh bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan Nhà nước (thông thường là tòa án) ra quyết định tuyên bố phá sản, hoặc (2) là thủ tục pháp lý liên quan đến một tổ chức kinh doanh để giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức đó.

Altman (1968) nghiên cứu tại Mỹ cho rằng “các doanh nghiệp phá sản khi không giải quyết được nghĩa vụ nợ và nộp đơn xin phá sản”. (1996) trong nghiên cứu Sự thất bại của ngân hàng, rủi ro hệ thống và các điều tiết về ngân hàng đã định nghĩa “một ngân hàng không thành công về mặt kinh tế khi giá trị thị trường của tài sản giảm xuống dưới giá trị thị trường của nợ phải trả, do đó giá trị thị trường của vốn (giá trị ròng) trở nên âm. Vào thời điểm đó, ngân hàng không thể mong đợi trả hết tiền cho người gửi tiền đầy đủ và đúng thời hạn” Theo Business dictionary, phá sản ngân hàng xảy ra khi ngân hàng mất khả năng thanh toán và không thể đáp ứng các nghĩa vụ tín dụng của nó, và buộc phải đóng cửa bởi các cơ quan quản lý. Điều này thường xảy ra khi ngân hàng có các khoản nợ quá lớn và không có khả năng thanh toán bằng các nguồn vốn có sẵn và không còn các khoản tiền cần thiết để duy trì dòng tiền mặt ổn định.

Phạm Tiến Đạt (2013) khi đánh giá rủi ro trong NHTM nhằm phục vụ cho hoạt động kiểm toán BCTC đã cho rằng “Rủi ro vỡ nợ là rủi ro khi ngân hàng không đủ VCSH để bù đắp cho sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản do hậu quả của các loại rủi ro khác, thiếu kinh nghiệm quản lý vĩ mô, do sự suy thoái của nền kinh tế, tỷ trọng huy động tiền gửi nhỏ, chủ yếu dựa vào các khoản vay, sự gia tăng các vụ vỡ nợ trong danh mục cho vay của các khách hàng”. Có thể thấy định nghĩa này đã chỉ ra dấu hiệu cụ thể để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng, đó là giá trị tài sản suy giảm dẫn đến VCSH không đủ bù đắp. Nguyên nhân do: (i) hậu quả của các loại rủi ro khác trong ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất,….hoặc (ii) do quản lý yếu kém, hoặc (iii) suy thoái kinh tế. Shelagh Heffernan (2005) cho rằng “Khả năng phá sản của các doanh nghiệp xảy ra khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khi nợ phải trả vượt quá tài sản hoặc tài sản ròng âm” 11 Tuy nhiên quan điểm trên cần phải được xem xét cẩn thận khi áp dụng cho NHTM vì các NHTM có những đặc điểm đặc thù, khác biệt trong hoạt động kinh doanh của mình so với các tổ chức khác trong nền kinh tế.

Các điểm khác biệt có thể kể đến đó là:  NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ, đây là lĩnh vực đặc biệt, nhạy cảm và tác động trực tiếp đến mọi hoạt động trong nền kinh tế.  Hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào lòng tin và mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, một khi lòng tin của khách hàng đối với NHTM suy giảm thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong việc huy động vốn, cung cấp tín dụng và các dịch vụ khác.  Hoạt động kinh doanh của các NHTM có thể xuất hiện nhiều rủi ro và chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau. Khi một ngân hàng mất khả năng thanh toán thì sẽ tạo ra tác động lan truyền đến các NHTM khác.

Chính vì thế Chính phủ luôn kiểm soát chặt chẽ hoạt động của ngân hàng nhằm ổn định hệ thống tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng xảy ra đến toàn bộ nền kinh tế. Với những sự khác biệt trên, nên khi xét riêng về lĩnh vực ngân hàng. Logan (2001) và Shelagh Heffernan (2005) đều có chung quan điểm và đưa ra khái niệm về rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM đó là: “Khi ngân hàng mất khả năng thanh khoản, bị sáp nhập hoặc bị mua lại bởi một ngân hàng lớn khỏe mạnh, được sự kiểm soát của chính phủ hoặc ngân hàng đó phải nhận sự cứu trợ từ ngân hàng trung ương”. (2002), “rủi ro mất khả năng thanh toán là rủi ro không thể trang trải các khoản lỗ, được tạo ra bởi tất cả các loại rủi ro, bằng số vốn khả dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ