mở đầu trình bày các nội dung: Tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu, Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và Kết cấu của luận văn. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết - mô hình nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu cơ sở lý luận, trình bày các mô hình nghiên cứu trước đây. Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNT Manulife tại TP HCM.
Chƣơng 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3 trình bày các thông tin cần thu thập, thiết kế quy trình nghiên cứu. Sau đó, xây dựng thanh đo. Kiểm định mô hình và giả thuyết đã đặt ra.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu. Trình bày kết quả thu thập và kết quả phân tích dữ liệu, đánh giá, kiểm định mô hình và giả thuyết đã đặt ra. Chƣơng 5: Kết luận – Hàm ý quản trị. Tóm tắt kết quả đã nghiên cứu, đề xuất một số hàm ý quản trị cho các quản lý kinh doanh, nhân viên maketing.trong lĩnh vực BHNT.
Đồng thời nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. c 5 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT – MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về BHNT 2.1 Khái niệm BHNT Có nhiều khái niệm khác nhau về BHNT. Thực tế BHNT là sự cam kết giữa Công ty BH với người tham gia BH hay còn gọi là bên mua BH (BMBH) trong đó Công ty BH có trách nhiệm trả cho BMBH một khoản tiền nhất định khi có những sự kiện định trước xảy ra như người được BH (NĐBH) bị chết, thương tật toàn bộ vĩnh viễn, hay còn sống đến một thời điểm chỉ rõ trong HĐ. Còn người tham gia BH có trách nhiệm nộp phí BH đầy đủ và đúng hạn.
Tuy nhiên đứng trên góc độ pháp lý, xã hội - kỹ thuật, có những khái niệm về BHNT khác. Đó là: Về mặt pháp lý: BHNT là bản HĐ trong đó để nhận được phí BH của BMBH thì công ty BH cam kết sẽ trả cho một người hay nhiều người thụ hưởng BH một số tiền nhất định (đó là số tiền BH hay một khoản trợ cấp định kỳ) trong trường hợp NĐBH bị tử vong hay NĐBH sống đến một thời điểm ghi rõ trên HĐ. Về mặt kỹ thuật: BHNT là nghiệp vụ bao hàm những cam kết mà sự thi hành những cam kết này thuộc chủ yếu vào tuổi thọ của con người. Như vậy, BHNT giải quyết nỗi lo âu về mặt an toàn trong đời sống nhưng nó chỉ gắn với các biến cố liên quan đến bản thân con người như: tử vong, sống sót, tai nạn và bệnh tật kéo theo sự mất khả năng lao động, thương tật và các chi phí y tế.2 Các loại hình BHNT Nhằm đa dạng hóa SP phục vụ nhu cầu ngày càng cao của KH, các công ty BHNT đã đưa ra thị trường nhiều loại SP BH khác nhau nhằm thỏa mãn và đáp ứng mọi nhu cầu của KH dựa trên 5 loại hình BH cơ bản là: BH tử kỳ, BH sinh kỳ, BH trọn đời, BH hưu trí, BH hỗn hợp.
Ngoài những loại hình BH chính còn có SP BH bổ trợ đi kèm để KH thêm nhiều lựa chọn như BH tai nạn, BH tử kỳ, trợ cấp nằm viện, BH bệnh hiểm nghèo và miễn nộp phí.1 BH tử kỳ (BH sinh mạng có thời hạn) Là loại hình BH được ký kết cho trường hợp cái chết xảy ra trong thời gian đã quy định của HĐ. Số tiền BH được thanh toán trong trường hợp NĐBH tử vong trong thời hạn BH. Nếu NĐBH sống qua thời hạn được BH sẽ không được thanh toán bất kỳ khoản gì. Độ dài của thời hạn BH rất khác nhau.2 Bảo hiểm sinh kỳ Là loại hình BH cho trường hợp sống của NĐBH.
Khi NĐBH sống đến một thời điểm đã được quy định trong HĐ, công ty BH sẽ chi trả số tiền BH.3 Bảo hiểm nhân thọ trọn đời Là loại hình BH có thời hạn dài và số tiền BH chỉ được chi trả khi NĐBH chết hoặc sống đến năm 99 tuổi tùy thuộc vào sự kiện nào đến trước. Trong khi BH sinh mạng có thời hạn chỉ bao gồm yếu tố rủi ro và không trả them bất kỳ quyền lợi nào. BHNT trọn đời kết hợp yếu tố tiết kiệm và bảo vệ. Hiện nay, hầu hết các sản phẩm chính của các công ty BHNT ở Việt Nam đều là loại hình BHNT trọn đời.4 Bảo hiểm trợ cấp hƣu trí Là loại hình BH mà công ty BH có trách nhiệm chi trả trợ cấp định kỳ cho NĐBH khi người BH về hưu cho đến khi chết.
Người ta thường kết hợp BH trợ cấp hưu trí với BH hưu trí. Khi về hưu, NĐBH nhận số tiền BH của HĐ BH hưu trí và mua ngay BH trợ cấp hưu trí để đảm bảo cuộc sống khi về hưu cho đến khi chết.5 Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp Là loại hình BH mà số tiền BH được trả không quan tâm đến NĐBH có bị chết trong thời hạn BH hay không với điều kiện NĐBH phải đóng phí theo quy định. Mỗi HĐBH đều quy định ngày hết hạn BH. Vào ngày đó, công ty BH sẽ trả số tiền BH cho NĐBH nếu anh ta còn sống.
Nếu NĐBH chết trước khi hết hạn HĐ thì số tiền BH sẽ được chi trả cho người thụ hưởng vào ngày NĐBH bị chết. BHNT hỗn hợp kết hợp giữa bảo vệ và tiết kiệm.6 Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ bổ trợ (SP phụ) Các SP BH bổ trợ này như: BH tai nạn cá nhân, BH tử kỳ, BH trợ cấp nằm viện, BH bệnh lý nghiêm trọng, miễn nộp phí BH. nhằm tăng thêm quyền lợi KH khi tham gia SP BH chính. Các SP BHNT bổ trợ chỉ có tính bảo vệ chứ không có tính tiết kiệm.3 Phí bảo hiểm Theo Luật kinh doanh BH số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội nước Việt Nam thì: “Phí BH là khoản tiền mà BMBH phải đóng cho DN BH theo thời hạn và phương thức do các bên thoả thuận trong HĐ BH”.
Phí BH áp dụng cho từng loại SP được tính toán tương đối phức tạp. Dựa trên những cơ sở khoa học nhất định như quy luật số lớn trong toán học, thống kê tỷ lệ rủi trong quá khứ, độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp. Ngoài những quy luật chung thì các công ty có những căn cứ riêng để đưa ra mức phí có yếu tố cạnh tranh.4 Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ HĐ BHNT là một văn bản ghi nhận sự cam kết giữa công ty BH và BMBH, trong đó công ty BH có trách nhiệm chi trả số tiền BH khi xảy ra những sự kiện BH. BH được quy định trong điều khoản HĐ như: thương tật, tử vong, đáo hạn HĐ.; còn người tham gia BH có trách nhiệm đóng phí đầy đủ và đúng hạn.
Trong HĐ BHNT có các bên liên quan sau: DN BH: được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh BH, tái BH. BMBH: là tổ chức, cá nhân giao kết HĐ BH với DN BH và đóng phí BH. BMBH có thể đồng thời là NĐBH hoặc người thụ hưởng. NĐBH: là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được BH theo HĐ BH.
NĐBH có thể đồng thời là người thụ hưởng. Người thụ hưởng: là tổ chức, cá nhân được BMBH chỉ định để nhận tiền BH theo HĐ BH con người. c 8 HĐ BHNT có thể dùng thế chấp để vay vốn như một giấy tờ có giá hoặc có thể ứng trước một khoản tiền nhất định tại công ty BH mà họ tham gia BH giống như một hình thức vay lại giá trị hoàn lại HĐ BH của chính mình. HĐ BHNT là HĐ dài hạn nên nếu người tham gia BH vì một lý do nào đó mà muốn hủy HĐ trước thời hạn thì sẽ nhận được một khoản tiền gọi là giá trị hoàn lại của HĐ cộng với bảo tức.
Nếu người tham gia hiểm hủy HĐ trong thời hạn còn đóng phí thì giá trị hoàn lại sẽ nhỏ hơn số phí mà họ đóng đến thời điểm hủy HĐ.2 Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định tham gia BHNT 2.1 Hành vi NTD Hành vi NTD là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ (Leon Schiffman, David Bednall và Aron O’Cass, 2005 theo Nguyễn Thị Thùy Miên, 2011) Hành vi NTD được định nghĩa là “Một tổng thể những hành động diễn biến trong suốt quá trình kể từ khi nhận biết nhu cầu cho tới khi mua và sau khi mua SP” (Philip Kotler 2005). Nói cách khác, hành vi của NTD là những phản ứng mà các cá nhân bộc lộ trong quá trình đưa ra quyết định mua SP/DV. Hộp đen ý thức ngƣời mua Quyết định Kích thích Kích thích của ngƣời Marketing khác Đặc tính của Quá trình quyết mua ngƣời mua định mua _ Sản phẩm _ Kinh tế _ Văn hóa _ Nhận thức vấn đề _ Sản phẩm _ Giá cả _ Kỹ thuật _ Xã hội _ Tìm kiếm thông _ Nhãn hiệu _ Phân phối _ Chính trị _ Cá nhân tin _ Nơi mua _ Chiêu thị _ Văn hóa _ Tâm lý _ Đánh giá _ Thời gian _ Xã hội _ Quyết định _ Số lượng _ Hậu mãi Hình 2.1 : Mô hình lý thuyết hành vi NTD (Nguồn: Philip Kotler, 2005) c 9 Từ mô hình này có thể thấy, hành vi NTD là những suy nghĩ, cảm nhận và hành động diễn ra trong quá trình quyết định mua và tác động của các yếu tố bên ngoài vào tâm lý bên trong NTD.2 Ý định mua hàng lặp lại Theo Hellier và các cộng sự (2003), ý định mua lặp lại là quá trình của một cá nhân mua hàng hóa hay DV từ một công ty và lý do để mua lặp lại chủ yếu dựa trên kinh nghiệm mua trong quá khứ. Sự ổn định và trung thành của KH ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của một công ty, và nó được quyết định chủ yếu bởi ý định mua lặp lại của KH.
Rosenberg và Czepiel (1984) cũng nói rằng chi phí để tạo ra KH mới thường cao hơn khoảng 6 lần so với chi phí giữ KH hiện tại. Hơn nữa, KH trung thành sẽ có nhiều khả năng để giới thiệu với bạn bè, người thân hoặc KH tiềm năng khác về SP, DV mà mình đã hài lòng. Chính vì vậy, việc giữ KH hiện tại, khiến KH mua lặp lại SP của mình cần được các DN xem trọng, song song với việc phát triển nguồn KH mới.