CHƯƠNG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN CHAT LƯỢNG CÔNG BO THONG TIN BCTC 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu về chất lượng công bố thông tin BCTC Nghiên cứu của Ferdy van Beest và các cộng sự năm 2009: nghiên cứu tập trung đo lường CLTT BCTC tại các công ty niêm yết ở Mỹ, Anh và Hà Lan trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2007. Dựa trên khung khái niệm về BCTC được công bố bởi FASB & IASB năm 2008, nhóm tác giả đã tiến hành xây dựng thang đo CLTT BCTC. Thang đo này gồm 5 biến quan sát và 21 chỉ mục, ở đây là 5 đặc tính chất lượng thông tin trên BCTC : Tính thích hợp (4 biến quan sát); Tính trình bày trung thực (5 biến quan sát); Tính có thể hiểu được (5 biến quan sát); Tính có khả năng so sánh (6 biến quan sát); Tính kịp thời (1 biến quan sát).
Kết quả cho thấy CLTT BCTC trong các DN Hoa Ky(KE TOÁN theo US GAAP) có điểm trung bình là 3,47 và 3,58 tương ứng với năm 2005 và 2007. CLTT BCTC tương ứng trong các DN Anh và Hà Lan (KE TOÁN theo IFRS) là 3,46 và 3,57. Nghiên cứu của Christopher W.Nobes và Christian Stadler năm 2014. Đây là nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên sử dụng đữ liệu có sẵn công khai để cung cấp băng chứng trực tiếp về vai trò của các đặc tính chất lượng thông tin tài chính trong việc đưa ra các thay đôi quyết định kế toán của nhà quản lý khi chuẩn mực kế toán quốc tế thay đôi.
Christopher and Christian (2014) cho thay chuẩn mực kế toán quốc tế tác động tích cực đến chất lượng thông tin cung cấp cho nhà quản lý. Đặc biệt, đặc tính thông tin thay đổi liên quan đến đo lường chất lượng thông tin có tác động quan trọng đến quyết định của chính sách kế toán. Vấn đề phát sinh sau khi được DN phân tích và giải thích về thay đổi chính sách đã giúp cải thiện chất lượng hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của DN này. Nghiên cứu của Saleh, I.
va Abu Afifa, MM (2023), "Phân tích dit liệu lớn va chất lượng báo cáo tài chính: bằng chứng định tính từ Canada”. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính, cụ thé là phỏng van dé xác định suy nghĩ và nhận thức của kiểm toán viên, nhà phân tích tài chính và kế toán tại các công ty kiểm toán và kế toán của Canada và tác động của nó đối với chất lượng báo cáo tài chính. Mẫu nghiên cứu ban đầu gồm 127 kiểm toán viên, nhà phân tích tài chính và kế toán từ các công ty kiểm toán và kế toán của Canada. Số người trả lời cuối cùng là 41, chiếm tỷ lệ phản hồi là 32%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy dữ liệu lớn có tác động đáng kê đến việc cải thiện chất lượng báo cáo tài chính, báo cáo kế toán và đánh giá của chuyên gia bằng cách mang lại tính chuyên nghiệp. Ở Việt Nam, có nghiên cứu của Phạm Quốc Thuần năm 2016, nghiên cứu hướng đến mục tiêu đo lường CLTT BCTC trong các DN tại Việt Nam dựa trên co sở tổng quát các đặc điểm về CLTT BCTC được ban hành bởi IASB & FASB kết hợp phương pháp nghiên cứu tình huống. Thang đo CLTT BCTC của nghiên cứu bao gồm sáu thành phần: Thích hợp; Trình bày trung thực; Có khả năng so sánh; Có thé kiểm chứng; Kip thời; Có thé hiểu được. Dé đo lường CLTT BCTC, tác giả đã tiến hành thực hiện 261 mẫu khảo sát với phương pháp chọn mẫu xác suất tại các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam.
Kết quả cho thấy thực trạng CLTT BCTC trong các DN tại Việt Nam theo kết quả khảo sát được đánh giá với số điểm bình quân là 3,76/5 điểm. Trong số 3 thành phần chính yếu cấu thành nên CLTT BCTC (Thích hợp, Trinh bày trung thực và Các thuộc tính gia tang CLTT BCTC) thì thành phần Các thuộc tính gia tăng CLTT BCTC được đánh giá khả quan nhất với số điểm bình quân là 4,03. Điều này cho thấy BCTC trong các DN Việt Nam hiện nay đều đạt được mức độ khá tốt ở khía cạnh So sánh, Kip thoi, Kiém chứng va Có thể hiểu được.2 Các nghiên cứu về nhân té ảnh hưởng đến chất lượng công bé thông tin BCTC Nghiên cứu cua Isidro, Nanda, and Wysocki (2020), “Mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và các thuộc tính quốc gia: Cơ hội và thách thức nghiên cứu”. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa chất lượng BCTC với thuộc tính của mỗi quốc gia.
Nghiên cứu đã chỉ ra 21 thuộc tính quốc gia đang thay đổi tăng đột biến xung quanh việc áp dụng IFRS bắt buộc. Do đó, trong khi việc áp dụng IFRS “giải thích” cho chất lượng báo cáo tăng lên, phát hiện nay sẽ biến mat sau các yếu tố quốc gia khác đang thay đổi sẽ quyết định chất lượng báo cáo. Giống như việc áp dung IFRS bắt buộc là đòn bay chính sách khi thực thi chính sách lành mạnh thị trường tài chính. Nghiên cứu của Nguyễn Bích Liên (2012).
Mục tiêu của đề tài là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT kế toán trong môi trường ERP. Nghiên cứu đã sử dụng Bảng câu hỏi khảo sát gửi đến các đối tượng là các nhà tư vấn triển khai ERP; các đối tượng nhà quản lý, nhân viên IT, kế toán, kiểm toán DN sử dụng ERP, các nhà nghiên cứu hoặc giảng dạy ERP trên số lượng mẫu thu thập là 143. Với phương pháp nghiên cứu được sử dụng là thống kê, so sánh và tổng hợp, nghiên cứu đã xác định được 6 nhân tố tác động đến chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ERP tại các DN Việt Nam bao gồm: Chính sách nhân sự và quản lý thông tin cá nhân; Kinh nghiệm, phương pháp tư vấn triển khai và chất lượng dữ liệu; Thử nghiệm hệ thống ERP và huấn luyện nhân viên; Năng lực, cam kết của Ban quản lý và kiến thức của nhà tư vấn triển khai; Kiểm soát đảm bảo hệ thống ERP tin cậy; Chất lượng phần mềm ERP. Luận án tiếp cận giải quyết vấn đề chất lượng thông tin trên góc độ của qui trình tạo lập thông tin chứ không phải góc độ của người sử dụng thông tin ra quyết định.
Điều này nghĩa là dựa vào các phương pháp kế toán hay chuẩn mực kế toán đã xây dựng, hệ thống thông tin sẽ tao ra các thông tin phù hợp và chính xác theo phương pháp hay chuẩn mực này và đảm bảo sự an toàn, chính xác dữ liệu tin học. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường và Lê Thi Bảo Ngọc năm 2018. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính năm của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam và ghi nhận rằng mức độ CBTT dat được là chưa cao, kể cả đó là CBTT bắt buộc. Đáng lưu ý nhất là mức độ CBTT tự nguyện còn khá thấp và còn đến 60% các chỉ mục thông tin nên được công bố, nhưng các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự chú tâm đến việc chuyên tải những thông tin này cho các bên liên quan, trong đó đặc biệt là các nhà đầu tư.
Kết quả cũng chỉ ra rằng, quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực, trong khi đó khả năng thanh toán va chủ thé kiểm toán lại có ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT trong BCTC của các doanh nghiệp này. Nghiên cứu của Đặng Ngọc Hùng và các cộng sự năm 2019. Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng CBTT và các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT trên BCTN của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp trọng số, đánh giá mức độ CBTT của từng tiêu chí để đo lường mức độ công bố thông tin cả về số lượng và chất lượng của 289 doanh nghiệp tại Việt Nam.
Kết quả cho thay mức độ công bố thông tin trong BCTN là 58,57%. Nghiên cứu đã xác định được 4 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT: kiểm toán độc lập, quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bây tài chính. Tuy nhiên, có 2 yếu tố không ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin là số lượng thành viên HĐQT và Chủ tịch & Tổng giám đốc.3 Khoảng trắng nghiên cứu Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chất lượng CBTT BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam nhưng vẫn còn một số khoảng trống nghiên cứu nhất định. Một mặt, các nghiên cứu trước đây như Nguyễn Bích Liên (2012) có mẫu khảo sát còn hạn chế, đữ liệu khảo sát khá cũ so với tình hình công bố thông tin hiện nay.
Do vậy, khi có nhiều thay đổi về chính sách kế toán cũng như những yếu tố khác thuộc về doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu có thé không còn phản ánh đúng thực trang CBTT của các CTNY ở Việt Nam. Mặt khác, các nghiên cứu gần đây như: Phạm Quốc Thuần (2016), Đặng Ngọc Hùng và các cộng sự năm 2019 đều đánh giá chất lượng CBTT dựa trên các đặc điểm định tính của thông tin tài chính thông qua phương pháp nghiên cứu tình huống và khảo sát (hay nói cách khác là việc tự đánh giá) các đối tượng lập và công bố BCTC. Điều này có thể dẫn đến sự thiên vị trong việc đánh giá chất lượng CBTT dưới góc nhìn người lập báo cáo. Bên cạnh đó, đa SỐ các nghiên cứu tại Việt Nam đều có sự điều chỉnh các chỉ mục và chưa có nghiên cứu nào tiếp cận toàn diện.
Đặc biệt, các nghiên cứu tại Việt Nam đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu nào tập trung riêng vào ngành sản xuất, là ngành quan trọng nhưng có mức độ CBTT còn thấp. Từ những luận điểm chỉ ra ở trên, tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bồ thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài luận văn. Đề tài có số lượng DN đánh giá tuy hẹp trong phạm vi ngành sản xuất nhưng tập trung đánh giá những doanh nghiệp có tính đại diện trong ngành và thông tin đánh giá trong ba năm từ 2020-2022 dé so sánh sự thay đôi mức độ CBTT qua các năm. Một số điểm mới của đề tài: e Xây dựng thang đo, đo lường CLTT BCTC phù hợp với đặc điểm của các DN tại Việt Nam trên cơ sở tiếp cận một cách toàn diện khuôn mẫu đo lường CLTT BCTC được công bố bởi FASB&IASB 2010.
Nghiên cứu có bổ sung thêm 2 biến quan sát cho đặc tính có thể kiểm chứng.