Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC NGUYÊN TẮC XỬ LÝ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 1. KHÁI NIỆM, NHỮNG CƠ SỞ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH CÁC NGUYÊN TẮC XỬ LÝ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, lấy con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển, đặc biệt là đối với trẻ em. Với đối tượng này, Đảng ta đã chỉ rõ: Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọng cho việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đầu tư cho trẻ em là đầu tư cho tương lai đất nước,… [23].
Thực tế, sau hơn 10 năm thực hiện Chỉ thị số 55-CT/TW ngày 28/6/2000 của Bộ Chính trị khóa VIII, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã có sự chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả quan trọng: Hệ thống pháp luật, chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã từng bước được hoàn thiện. Công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được tăng cường. Việc huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện mục tiêu vì trẻ em ngày càng có hiệu quả; chăm sóc sức khỏe, đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ em được cải thiện đáng kể. Số trường đạt chuẩn quốc gia và tỉ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi ngày càng tăng; đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở… [23].
16 z Tuy nhiên, tình trạng trẻ em vi phạm pháp luật ngày càng tăng "hàng năm có khoảng 18.000 người chưa thành niên vi phạm pháp luật, trong đó 15% phạm tội đặc biệt nghiêm trọng" [29]. Cũng như mọi chính sách pháp luật khác của Nhà nước, pháp luật hình sự Việt Nam luôn coi người chưa thành niên là đối tượng cần được bảo vệ, ngay cả khi các em là đối tượng vi phạm gây nguy hiểm cho xã hội. Khi các em là chủ thể của tội phạm thì việc xử lý các em phải tuân theo nguyên tắc bao trùm mang tính chất chỉ đạo thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là lấy giáo dục làm nền tảng, trọng tâm trong quá trình xử lý vụ án. Chính vì vậy, Bộ luật hình sự đã quy định tại Điều 69, về các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm.
Khái niệm các nguyên tắc xử lý ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam Kế thừa và phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kể từ khi thành lập cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em, hệ thống pháp luật, chính sách, chăm sóc bảo vệ trẻ em đã từng bước được hoàn thiện. Trẻ em được cộng đồng quan tâm, giáo dục và bảo vệ trước hành vi xâm hại và ngay cả khi các em là chủ thể của tội phạm thì pháp luật hình sự cũng dành cho các em sự quan tâm đặc biệt. Theo Bộ luật hình sự, việc xử lý, giải quyết các vụ án do người chưa thành niên phạm tội phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản. Đó là "Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội" được quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự.
Trước khi có Bộ luật hình sự đầu tiên, tuy chưa có hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội nhưng cũng đã có một số nguyên tắc cơ bản được đề cập tại sách báo pháp lý hoặc văn bản hướng dẫn nghiệp vụ cấp ngành. Ví dụ: Bản tổng kết 452-HS2 ngày 10/8/1970 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội giết người, Chuyên đề sơ kết kinh nghiệm về việc xét xử vụ án về người chưa thành niên phạm tội gửi kèm Công văn số 37- NCPL ngày 16/01/1976 của Tòa án nhân dân tối cao. 17 z Kể từ khi có Bộ luật hình sự đầu tiên (Bộ luật hình sự năm 1985) và cho đến Bộ luật hình sự hiện hành (Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009), các nguyên tắc này đã được pháp điển hóa và hoàn thiện nhưng cho đến nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, các sách, báo chuyên khảo hoặc công trình nghiên cứu mới chỉ phân tích các nguyên tắc cũng như đường lối xử lý người chưa thành niên phạm tội chứ chưa thấy được và chỉ ra khái niệm khoa học về các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội. Do vậy, ở trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội nhưng trước khi đưa ra khái niệm này, theo chúng tôi cần phải làm rõ những đặc điểm đặc trưng của các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội như sau: Thứ nhất, các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta.
Điều này được thể hiện xuyên suốt trong các nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 69 Bộ luật hình sự mà điển hình là nguyên tắc thứ hai - người chưa thành niên có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục. Đây là nguyên tắc thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo đặc biệt - miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, nó phản ánh chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời nhằm động viên, khuyến khích họ lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng, tái hòa nhập cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Ngoài ra, các nguyên tắc về mục đích xử lý người chưa thành niên phạm tội, về việc áp dụng các biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội đều thể hiện tính nhân đạo đối với người chưa thành niên phạm tội. 18 z Thứ hai, các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam thể hiện tính cụ thể, nhân văn.
Điều này được thể hiện ở chỗ không phải tất cả những người chưa thành niên phạm tội đều xử lý bằng hình sự. Theo khoa học luật hình sự, tội phạm do người chưa thành niên gây ra khi thỏa mãn năm điều kiện sau: Một là, phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội; Hai là, do người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với từng loại tội phạm và lỗi gây ra; Ba là, có lỗi, riêng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải có lỗi cố ý nếu phạm tội rất nghiêm trọng; Bốn là, hành vi nguy hiểm cho xã hội do người chưa thành niên thực hiện phải được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm Năm là, người đó thực tế phải chịu trách nhiệm hình sự sau khi các cơ quan có thẩm quyền cân nhắc tính cần thiết phải xử lý bằng hình sự mà không thể áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp khác để quản lý, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Do vậy, bên cạnh việc xử lý hình sự người chưa thành niên phạm tội, pháp luật hình sự nước ta còn quy định các biện pháp xử lý khác như miễn trách nhiệm hình sự, áp dụng các biện pháp tư pháp v.v… Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án có người chưa thành niên phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng ngoài việc điều tra, xác minh sự thật khách quan quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự còn phải "xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm" [54], để từ đó đưa ra biện pháp xử lý mang lại hiệu quả giáo dục tốt nhất cho người chưa thành niên phạm tội hoặc kiến nghị phòng ngừa tội phạm. Khi áp dụng chế tài xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, những người tiến hành tố tụng chỉ 19 z được áp dụng hình phạt nếu thấy thực sự cần thiết và đặc biệt phải "hạn chế hình phạt tù.
Khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng" [54, Điều 69]. Điều này đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải hiểu và đồng tình với quan niệm nhà tù là lựa chọn cuối cùng để xử lý người chưa thành niên phạm tội. Và đương nhiên, khi không phải lựa chọn một biện pháp nào để xử lý người chưa thành niên phạm tội mới là điều tốt lành không là lý tưởng mà còn là những hành động chiến lược lâu dài và rất cụ thể của tất cả chúng ta. Thứ ba, các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam đều nhằm mục đích giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Nhấn mạnh điều này, các nhà làm luật đã quy định ngay tại nguyên tắc đầu tiên trong Điều 69 Bộ luật hình sự - Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Nó cho thấy các biện pháp áp dụng người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ thấy được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, sự nghiêm minh của pháp luật và giúp đỡ họ trở thành công dân có ích. Việc quy định án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi không được tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm cũng thể hiện đặc điểm này, việc quy định như vậy đã tạo điều kiện để người chưa thành niên có thể tái hòa nhập cộng đồng, phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần, cũng như tránh mặc cảm tội lỗi của bản thân người chưa thành niên và cái nhìn thiếu thiện cảm, dị nghị của xã hội đối với người đó sau nay khi đã trở thành người thành niên.