phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chƣơng, 5 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI VÀ KHÁI LƢỢC PHẬT GIÁO NAM TÔNG Ở HUYỆN HÒN ĐẤT 1. Một số vấn đề lí luận về lễ hội Về khái niệm lễ hội có thể thấy rất nhiều quan điểm, trong phạm vi đề tài nghiên cứu tác giả xin nêu một số cách hiểu về lễ hội nhƣ sau: + Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của các tầng lớp nhân dân, diễn ra trong chu kỳ về không gian và thời gian nhất định để tiến hành những nghi thức mang tính biểu trƣng về sự kiện nhân vật đƣợc thờ cúng.
Còn lễ hội tín ngƣỡng là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cƣ trong thời gian và không gian xác định: nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại có tính thiêng; đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con ngƣời với thiên nhiên - thần thánh và con ngƣời trong xã hội [22, tr. Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trƣng của cộng đồng xoay quanh một trục ý nghĩa nào đó nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định. Lễ hội là cuộc sống đƣợc tái hiện dƣới hình thức một trò diễn đƣợc thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, của tƣ tƣởng và của biểu tƣợng, vƣợt trên thế giới hiện thực. + Trong từ điển bách khoa Việt Nam: Lễ là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện.
Còn: Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Chức năng xã hội của hội là củng cố những mối quan hệ giữa các nhóm, khẳng định tinh thần cộng đồng. Về phƣơng diện văn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa, hội có chức năng khẳng định trình độ văn hóa của một cộng đồng và giao lƣu văn hóa trên quy mô xã hội. Trong lễ hội, các lễ nghi tín ngƣỡng, các phong tục tập quán, các thể lệ và hình thức sinh hoạt của một cộng đồng đƣợc tái hiện một cách rất sinh động.
Lễ hội là một sự kiện văn hóa đƣợc tổ chức mang tính cộng đồng. Lễ hội là hoạt động tập thể và thƣờng có liên quan đến tín ngƣỡng, tôn giáo. Con ngƣời xƣa kia rất tin vào trời đất, thần linh. Các lễ hội cổ truyền phản ánh hiện tƣợng đó.
Tôn giáo rất có ảnh hƣởng tới lễ hội. Tôn giáo thông qua lễ hội để phô trƣơng thanh thế, lễ hội nhờ có tôn giáo để thần linh hóa những thứ trần tục. Nhƣng trải qua thời gian, trong nhiều lễ hội, tính tôn giáo dần giảm bớt và chỉ còn mang nặng tính văn hóa. Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hƣớng tới đối tƣợng thiêng liêng cần suy tôn là nhân thần hay nhiên thần.
Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của con ngƣời. Giúp con ngƣời nhớ về nguồn cội, hƣớng thiện và nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui. Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể hiểu: khái niệm lễ hội phật giáo là hình thức sinh hoạt tôn giáo mang tính cộng đồng của ngƣời theo Phật giáo, là một phƣơng thức biểu hiện đức tin của ngƣời Phật tử diễn ra vào một khoảng thời gian nhất định nào đó và mang tính chất kỷ niệm nào đó đối với Phật giáo. Nhƣ vậy lế hội Nam tông Khmer dƣợc hiểu là: hình thức sinh hoạt tôn giáo mang tính cộng đồng của ngƣời theo Phật giáo Nam tông Khmer, là một phƣơng thức biểu hiện đức tin của ngƣời Phật tử diễn ra vào một khoảng thời gian nhất định nào đó và mang tính chất kỷ niệm nào đó đối với Phật giáo Nam tông Khmer 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Bản chất của lễ hội Lễ hội là một hoạt động văn hóa của từng cộng đồng ngƣời, phản ánh trình độ tổ chức xã hội.
Lễ hội bao giờ cũng thể hiện sự ƣớc vọng, niềm tin về cuộc sống tốt đẹp của cộng đồng ngƣời vào hiện tại và tƣơng lai, hoài niệm quá khứ, gợi về cội nguồn dân tộc. Trong xã hội phong kiến, nhà nƣớc và các tôn giáo luôn tạo dựng củng cố những lễ hội để khẳng định trật tự xã hội, uy quyền và sự linh thiêng tôn giáo. Tính giai cấp của lễ hội thể hiện ở sự phân cấp quyền lợi của ngƣời tham gia. Thƣờng thì ngƣời dân chỉ tham gia các trò diễn, còn nghi lễ chính thức vẫn do quan viên phụ trách.
Tuy nhiên, về mặt quyền lợi nhƣ hƣởng các phần thƣởng, lễ vật cúng thần thì thƣờng không phân biệt mà có tính cộng đồng, ai tham gia sẽ đƣợc chia phần và đƣợc thƣởng nếu chiến thắng trong các hội thi. Lễ hội luôn duy trì liên tục qua các thời đại, nó vừa nối tiếp truyền thống vừa mang yếu tố thời đại. Dù muốn hay không, lễ hội đều phải chịu ảnh hƣởng của chế độ xã hội. Mỗi xã hội đều có ảnh hƣởng và tác động nhiều hay ít đến sinh hoạt, tập tục, lối sống.
Xã hội hiện đại với nếp sống hiện đại ít nhiều đã tạo nên một số thói quen sinh hoạt mới, khác với lối sống và thói quen cũ. Nhƣng nó có duy trì và tồn tại đến thế hệ sau hay không là tùy thuộc vào sự ƣu việt của nó, tùy vào sự chấp nhận và thích nghi của thế hệ mới. Sự phát triển kinh tế xã hội thúc đẩy sự thay đổi và hình thành những nếp sống và lễ hội hiện đại. Có những lễ hội mới phát sinh trong xu thế hội nhập và phát triển của xã hội, do tác động của sự phát triển các ngành nghề và sự mở rộng quy mô kinh doanh nhƣ lễ hội hoa, lễ hội trà, lễ hội cà phê, lễ hội trái cây,.
Lễ hội của ngƣời Khmer gồm 2 loại là lễ hội dân tộc và lễ hội tôn giáo. Lễ hội dân tộc là những ngày lễ bắt nguồn từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cũng nhƣ cuộc sống lao động của dân chúng, tuy nhiên, trong quá trình phát triển thì những lễ hội này thƣờng bị pha trộn với những yếu tố tôn giáo [Xem 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những lễ hội dân tộc lớn trong năm của ngƣời Khmer gồm: lễ Vào năm mới (Chôl chnam thmây) - thƣờng tổ chức vào giữa tháng 4 Dƣơng lịch tức đầu tháng Chét của ngƣời Khmer, lễ cúng ông bà (Đôn - ta) - tổ chức vào 3 ngày từ 29-8 đến 1-9 Âm lịch, lễ cúng trăng hay lễ cúng cốm dẹp (Ók om bok) - tổ chức ngày 15-10 Âm lịch. Lễ hội tôn giáo của ngƣời Khmer ngày nay đều gắn với Phật giáo Nam tông.
Những lễ hội tôn giáo định kỳ hàng năm đó là: Lễ phật đản (Lễ phật đản của ngƣời Khmer tổ chức vào rằm tháng 5 Âm lịch khác với ngày lễ phật đản của Phật giáo đại thừa: 8-4 âm lịch); lễ đặt cơm vắt (từ ngày 15 đến 30-8 Âm lịch); lễ ra hạ (14 và 15-9 âm lịch); lễ dâng y (từ 14-9 đến 15-10 Âm lịch). Ngoài ra còn có những ngày lễ không định kỳ nhƣ lễ an vị tƣợng Phật và lễ kết giới [xem 19]. * Khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng lớn với rất nhiều cách hiểu khác nhau và còn nhiều vấn đề còn tranh luận. Dù nghiên cứu văn hoá dƣới góc độ nào thì văn hoá vẫn có những nội dung cơ bản của nó.
Mặc dù ra đời sớm trong ngôn ngữ Phƣơng Tây cũng nhƣ Phƣơng Đông nhƣng phải đến thế kỷ XVIII, từ “văn hóa” mới đƣợc đƣa vào khoa học, sử dụng nhƣ một thuật ngữ khoa học. Từ đó đến nay khái niệm văn hóa đƣợc nhiều ngƣời đề cập. Các nhà đạo đức học coi văn hoá là đạo đức, các nhà tôn giáo học coi văn hoá là phong tục, tập quán, tín ngƣỡng, các nhà dân tộc học coi văn hoá là hình thức biểu hiện đời sống của các tộc ngƣời,… Tính đa nghĩa của khái niệm văn hoá không chỉ có trong nhận thức lý luận mà còn là thực tiễn. Văn hoá là khái niệm đang vận động, mang tính lịch sử, biến đổi cùng các thời đại trong lịch sử.
Hiện nay trên thế giới có hàng trăm định nghĩa về văn hoá, mỗi định nghĩa đi vào một khía cạnh khác nhau của văn hoá. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm văn hóa của Trần Ngọc Thêm: [30, tr. 56] “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Năm 2002, tổ chức UNESCO đã đƣa ra khái niệm về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa nên đƣợc đề cập đến nhƣ là một tập hợp những đặc trƣng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay của một nhóm ngƣờitrong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật cả cách sống, phƣơng thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm tới văn hóa, Ngƣời đƣa ra khái niệm về văn hóa nhƣ sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích cuộc sống loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ta ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó đƣợc gọi là văn hóa” [26, tập 4]. Các tác giả trong sách Tôn giáo lý luận xƣa và nay cho rằng: “Tôn giáo biểu hiện là một trong những lĩnh vực của văn hóa tinh thần. Với quan niệm như vậy, thì tôn giáo và văn hóa không tách biệt và xa lạ nhau, tôn giáo không vượt ra ngoài khuôn khổ của văn hóa, không bị mất đi những đặc điểm vốn có của nó với tư cách là một hiện tượng văn hóa.
Mặt khác, chỉnh thể văn hóa không thể thiếu tôn giáo, không đánh mất nó, giữ lại nó trong mình, không thu hẹp nội dung và không gian của nó” [23, tr. 285] Tóm lại Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần đƣợc con ngƣời sáng tạo và lƣu giữ trong quá trình lịch sử.