phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2001 - 2005. Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2006 – 2010. Chƣơng 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 2001 - 2005 1.
Khái quát điều kiện tự nhiên – xã hội và việc quán triệt thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Hòa Bình trƣớc năm 2001 1. Điều kiện tự nhiên – xã hội và tình hình các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình 1. Điều kiện tự nhiên - xã hội tỉnh Hòa Bình Hoà Bình là một tỉnh có bề dày lịch sử, nhân dân các dân tộc trong tỉnh không những cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, mà còn có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất với những chiến tích hào hùng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Ngày 22/6/1886 sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp với chính sách “chia để trị” đã giao cho quyền kinh lược Bắc Kỳ ký Nghị định cắt những vùng đất đai có đồng bào Mường cư trú thuộc các tỉnh Hưng Hoá, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình để thành lập một tỉnh mới gọi là tỉnh Mường.
Tỉnh Mường đầu tiên gồm bốn Phủ: Vàng An, Lương Sơn, Lạc Sơn và Chợ Bờ. Từ năm 1886 đến năm 1896, tỉnh lỵ có nhiều lần di chuyển, lúc đầu ở Chợ Bờ rồi chuyển về Phương Lâm nhưng ở đây thường bị ngập lụt nên lại chuyển lên Chợ Bờ. Sau cuộc tiến công bất ngờ của nghĩa quân Đốc Ngữ vào Chợ Bờ đêm ngày 29 rạng sáng ngày 30 tháng 01 năm 1891, giết chết tên phó sứ Ru – Giơ – Ri, thực dân Pháp hoảng sợ chuyển lỵ sở đi nơi khác. Ngày mùng 5/9/1896, tỉnh lỵ Mường chuyển về đóng lại làng Vũ Diệu, xã Hoà Bình, phía tả ngạn sông Đà đối diện với Phương Lâm, từ đó tỉnh Mường được gọi là tỉnh Hoà Bình.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lúc này tỉnh Hoà Bình có bốn châu là: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn và Mai Đà. Lạc Thuỷ thuộc châu Lạc Sơn đến tháng 10 năm 1908 thì chuyển về tỉnh Hà Nam. Từ năm 1896 địa giới hành chính tỉnh Hoà Bình về cơ bản ổn định. Đến tháng 01 năm 1953 châu Lạc Thuỷ cùng một số xã của Nho Quan – Ninh Bình được chuyển về Hoà Bình.
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, các Châu được chuyển gọi thành huyện và tổ chức hành chính của một số huyện có thay đổi: Tháng 10/1957 huyện Mai Đà được tách thành hai huyện mới: Mai Châu và Đà Bắc; huyện Lạc Sơn tách thành hai huyện: Lạc Sơn và Tân Lạc, đến tháng 8/1964 huyện Lạc Thuỷ tách thành hai huyện: Yên Thuỷ và Lạc Thuỷ. Mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong tiến trình đó, ngày 27/12/1976, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá V, tại kỳ họp thứ hai ra Nghị quyết hợp nhất một số tỉnh, trong đó có tỉnh Hoà Bình và tỉnh Hà Tây hợp thành một tỉnh mới gọi là tỉnh Hà Sơn Bình. Trong 15 năm hợp nhất, nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Sơn Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ đã chung sức, chung lòng xây dựng tỉnh mới ngày một phát triển.
Ngày 01/10/1991 theo Nghị quyết của Quốc hội khoá VIII (kỳ họp thứ 9) tỉnh Hoà Bình được tái lập. Đây là sự kiện đánh dấu một thời kỳ mới trong tiến trình cách mạng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tỉnh Hoà Bình có tổng diện tích là 4749 km2 gồm 10 huyện, thị: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Kim Bôi, Tân Lạc, Cao phong, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Mai Châu, Đà Bắc và một thành phố trực thuộc tỉnh. Phía Bắc giáp với tỉnh 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sơn La và tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Hà Tây, cách thủ đô Hà Nội điểm gần nhất là 30km.
Phía Nam và Tây Nam giáp các tỉnh: Hà Nam, Ninh Bình và Thanh Hoá. Chính vì vậy, Hoà Bình có vị trí quan trọng chiến lược ở Bắc Bộ, là cửa ngõ ra vào vùng Tây Bắc, là bản lề giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ, khu Bốn cũ với Tây Bắc, Việt Bắc, là cửa ngõ thông sang Thượng Lào. Địa phận Hoà Bình có nhiều con đường giao thông huyết mạch đi qua như: Quốc lộ 6, 12, 15, 21… Đặc biệt là con sông Đà chảy từ Tây Bắc qua Hoà Bình nối với sông Hồng ở Việt Trì, sông Bôi từ Kim Bôi qua Lạc Thuỷ chảy vào sông Hoàng Long nối với sông Đáy tại cửa Gián (Phủ Lý). Những con đường thuỷ, bộ này là mạch máu giao thông quan trọng nối Hoà Bình với các tỉnh xung quanh.
Núi rừng Hoà Bình có địa thế, địa hình khá hiểm trở, chia thành hai tiểu vùng: Tiểu vùng 1, trải dài từ Đà Bắc qua Tân Lạc, Lạc Sơn, Mai Châu nối với miền Thượng du Thanh Hoá. Đó là vùng núi cao nối tiếp giữa dãy Hoàng Liên Sơn và dải Trường Sơn, có độ cao trung bình 400 – 500 mét với nhiều đồi núi cao, rừng rậm. Tiểu vùng thứ 2, bao gồm các huyện Kỳ Sơn, Lương Sơn xuống tới Lạc Thuỷ. Đây là vùng núi thấp, có độ cao trung bình trên 100 mét, chủ yếu là núi đá vôi, nhiều hang động, rừng thứ sinh và đồng cỏ.
Địa hình rừng núi trong tỉnh bị chia cắt bởi nhiều thung lũng, hàng trăm con suối lớn, nhỏ. Xen giữa các rặng núi có những thung lũng trải rộng, kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng và các triền bãi ven sông. Trên dải cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ - Lai Châu đến bờ biển tỉnh Ninh Bình, hoạt động cacxtơ hoá đã tạo ra các bồn địa giữa núi có điều kiện cư trú thuận lợi (địa hình thấp, khá bằng phẳng, đất đai màu mỡ, có nguồn nước…), hình thành nên các xứ Mường trù phú, thường được người Mường ca tụng: “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” (nay thuộc địa phận các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong và Kim Bôi). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở địa bàn miền núi, Nông - lâm nghiệp là tiềm năng kinh tế quan trọng hàng đầu của tỉnh, đặc biệt là tiềm năng về lâm nghiệp.
Trong tổng số 395.300 ha đất đai nông – lâm nghiệp thì đất lâm nghiệp chiếm tới 367.300 ha, bằng gần 80% [52; 9]. Rừng là tài nguyên quý giá nhất của Hoà Bình với nhiều loại gỗ qúy có giá trị về mặt kinh tế và giá trị sử dụng cao như lim, vàng hương, sến… các loại hương dược liệu: quế, nấm linh chi, thông đỏ… và các loại đặc sản rừng như nấm hương, măng, mộc nhĩ… Trong lòng đất Hoà Bình tiềm ẩn một số loại khoáng sản như than, kẽm, amiăng, vàng… Hoà Bình có nhiều sông, suối nên nguồn thuỷ điện rất phong phú, có điều kiện phát triển thuỷ điện nhỏ trên phạm vi rộng. Đặc biệt là nguồn năng lượng của sông Đà rất lớn. Năm 1979, được sự giúp đỡ của Liên Xô, công trình thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà được khởi công xây dựng.
Đây là công trình thuỷ điện lớn nhất Đông Nam Á với 8 tổ máy có tổng công suất là 1,92 triệu kw, sản lượng điện hàng năm là 8,16 tỷ kw/giờ. Rừng núi với bàn tay lao động của nhân dân các dân tộc đã tạo nên nhiều cảnh quan kỳ thú: Núi đá Cột cờ (Tân Lạc), Hang Can (Kỳ Sơn), Hang Trại (Lạc Sơn), Hang Đồng Nội (Lạc Thuỷ)… với những dấu tích của nền văn hoá Hoà Bình nổi tiếng, với những bản làng đẹp của đồng bào Thái (Bản Lác – Mai Châu), của đồng bào Mường (Bản Đầm - thị xã Hoà Bình)… suối nước khoáng Kim Bôi vừa là điểm du lịch, vừa là điểm điều dưỡng và là nguồn nguyên liệu phong phú để sản xuất nước giải khát có giá trị. Bên cạnh những tiềm năng lớn, đa dạng nói trên thì điều kiện tự nhiên cũng đem lại cho Hoà Bình không ít những khó khăn. Trước hết là giao thông không thuận lợi, nhất là mùa mưa lũ, một số vùng cao, vùng sâu, việc đi lại và vận chuyển bằng xe cơ giới cũng gặp nhiều trắc trở.
Diện tích đất trồng cây lương thực, nhất là lúa nước rất ít, phần lớn là ruộng bậc thang hàng năm thường bị lũ quét trong mùa mưa bão, điều kiện để thâm canh tự túc về lương 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực là rất khó khăn. Trong khi đó, trình độ sản xuất của nhân dân các dân tộc chưa cao. Nhìn chung, Hoà Bình là một tỉnh miền núi còn nghèo nàn và hậu. Những năm gần đây, do chính sách quản lý, sử dụng đất rừng và tài nguyên rừng còn thiếu xót, dân số tăng nhanh, cộng với phương hướng tự trang trải về lương thực đã dẫn tới tình trạng chặt phá rừng với tốc độ nhanh.
Rừng bị suy kiệt, nhiều vùng trở thành đất trống, đồi trọc, môi trường sinh thái bị huỷ hoại đáng lo ngại làm cho hạn hán, lũ lụt thêm nghiêm trọng. Tình hình các dân tộc trên địa bàn tỉnh Hoà Bình Hòa Bình là một địa bàn sinh sống tập trung lâu đời của dân tộc Mường và các dân tộc Thái, Kinh, Tày, Dao, Mông… Họ sống xen kẽ với nhau tạo thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ. Theo số liệu của cục thống kê tỉnh Hòa Bình tháng 12 năm 2009, toàn tỉnh có gần 79 vạn dân (trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 71,27%), người Mường chiếm tới hơn 63% tổng số dân toàn tỉnh và gần 10% là các dân tộc thiểu số khác: Thái, Tày, Dao, Mông…. Họ có mặt hầu hết ở 10 huyện, thị, đông nhất là ở các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Kim Bôi.
Người Kinh sống tập trung chủ yếu ở thị xã, các thị trấn dọc đường giao thông lớn như Chợ Đồn, Chợ Bờ, Phương Lâm, Vụ Bản… chiếm tỷ lệ gần 30% tổng dân số toàn tỉnh. Người Thái sống chủ yếu ở huyện Mai Châu; Người Tày, Dao sống chủ yếu ở các vùng núi cao của huyện Đà Bắc, Lương Sơn, Kim Bôi; Người Mông sống tập trung ở hai xã Pà Cò và Hang Kia, huyện Mai Châu.