Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TRONG CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC 1. Các khái niệm và các học thuyết liên quan đến tạo động lực làm việc trong các tổ chức khoa học 1. Động lực lao động Có rất nhiều tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về “động lực lao động” nhưng xét cho cùng thì đều làm rõ được bản chất của ĐLLĐ. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức” [8].
Theo giáo trình Hành vi tổ chức của tác giả Bùi Anh Tuấn - Phạm Thúy Hương: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện 9 của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [15]. Từ những khái niệm trên có thể khái quát rằng, ĐLLĐ xuất phát từ trong suy nghĩ của mỗi cá nhân. ĐLLĐ là những gì chúng ta có thể quan sát được thông qua những việc làm cụ thể hay thái độ làm việc của NLĐ đối với những công việc họ đang trực tiếp đảm nhận, cũng như cách ứng xử của họ trong tổ chức.
Mỗi cá nhân được đảm nhiệm mỗi công việc khác nhau, đồng thời trách nhiệm của họ cũng khác nhau nên động lực của người là hoàn toàn khác nhau. ĐLLĐ là những nhân tố bên trong lẫn bên ngoài thúc đẩy NLĐ làm việc tích cực hơn trong điều kiện cho phép nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả việc. Tạo động lực lao động Trong bối cảnh hiện nay, các tổ chức rất chú trọng vấn đề tạo ĐLLĐ cho nhân viên, làm thế nào để NLĐ cảm thấy hứng thú với công việc, làm việc hăng say, nhiệt tình, cống hiến hết mình vì tổ chức. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào” [9]. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của tác giả Bùi Anh Tuấn - Phạm Thúy Hương: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc” [15]. Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu rằng tạo ĐLLĐ là việc mà các nhà lãnh đạo sử dụng hệ thống chính sách, quy chế của cơ quan và các biện pháp cũng như cách thức quản lý để thúc đẩy NLĐ, tạo ra động lực để NLĐ hứng thú hơn với công việc và làm cho họ muốn cống hiến hết mình cho tổ chức. Các học thuyết tạo động lực * Học thuyết nhu cầu của Maslow 10 Tháp nhu cầu Maslow là mô hình nổi tiếng về tâm lý và động cơ của con người, được đặt theo tên nhà tâm lý học Abraham Maslow, người đã đưa ra nghiên cứu và phát triển mô hình này bắt đầu từ vào năm 1943.
Tháp gồm 5 tầng tương ứng với 5 cấp độ nhu cầu của con người, càng lên cao nhu cầu của con người lại càng cao hơn. Tháp nhu cầu của Maslow Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Nguồn: Lê Thanh Hà (2009), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Lao động - Xã hội Dựa vào tháp nhu cầu của Maslow (Hình 1.1), có thể thấy rằng, nhu cầu của con người bao gồm: - Nhu cầu sinh lý: Nhu cầu cơ bản nhất nằm ở đáy của kim tự tháp. Đây là những đòi hỏi về thể chất cho sự sống còn của con người. Nếu những yêu cầu này không được đáp ứng, cơ thể con người không thể duy trì cuộc sống.
Thực phẩm, không khí, nước, ngủ,… nằm trong danh mục này. Các nhu cầu sinh lý học được cho là quan trọng nhất, vì vậy chúng phải được đáp ứng trước tiên. - Nhu cầu an toàn: Khi nhu cầu về thể chất của một người được thỏa mãn, nhu cầu về sự an toàn của họ được ưu tiên. Những nhu cầu này bao gồm an toàn về thể chất, sức khoẻ, an ninh gia đình, an ninh tài chính hoặc việc làm và an toàn trong gia đình.
11 - Nhu cầu xã hội: Sau khi các nhu cầu về sinh lý và an toàn được hoàn thành, con người tập trung sự chú ý vào nhu cầu giao lưu tình cảm. Theo tháp nhu cầu Maslow, con người muốn được hoà nhập trong một cộng đồng nào đó, muốn có một gia đình hạnh phúc, những người bạn bè gần gữi, thân thiết. Con người cần yêu và được yêu, nếu không họ có thể trở nên cô đơn, lo lắng và thậm chí trầm cảm. - Nhu cầu được tôn trọng: Giống như mong muốn nhận được sự yêu thương, chúng ta cũng cần có nhu cầu nhận được sự tôn trọng.
Điều này có thể được thực hiện thông qua cảm giác tự trọng, sự tôn trọng của người khác, sức mạnh, năng lực, sự thành thạo, tự tin, độc lập và tự do. - Nhu cầu tự hoàn thiện: Sau khi tất cả các nhu cầu trước đó đã được đáp ứng một cách thỏa đáng, mọi người bắt đầu tập trung vào việc nhận ra tiềm năng đầy đủ của họ. Tháp nhu cầu của Maslow mô tả mức độ này là “Con người mong muốn đạt được tất cả mọi thứ trong lĩnh vực của mình, đứng đầu và không ngừng hoàn thiện những gì mình đang sở hữu”. Theo Maslow, sự thoả mãn nhu cầu của con người bắt đầu từ những nhu cầu cơ bản nhất, khi các nhu cầu đó được thỏa mãn thì mới xuất hiện những nhu cầu cao hơn.
Nhà lãnh đạo muốn tạo động lực làm việc cho NLĐ thì trước hết cần xác định nhu cầu của họ là gì để thỏa mãn nhu cầu đó bằng cách đưa ra những định hướng và chính sách tạo động lực phù hợp. * Học thuyết công bằng của Stacy Adam Thuyết công bằng là một lý thuyết về sự động viên nhân viên do John Stacy Adams, một nhà tâm lý học hành vi và quản trị đưa ra vào năm 1963. John Stacey Adams cho rằng con người luôn muốn được đối xử công bằng. Nhân viên có xu hướng đánh giá sự công bằng bằng cách so sánh công sức họ bỏ ra so với những thứ họ nhận được cũng như so sánh tỉ lệ đó của họ với tỉ lệ của những đồng nghiệp trong công ty (Hình 1.
Giản đồ hóa lý thuyết công bằng của Stacey Adams 12 Nguồn: Báo điện tử Việt Nam mới (2019), https://vietnammoi.vn/thuyet- cong-bang-equity-theory-cua-john-stacey-adams- Nếu kết quả của sự so sánh đó là sự ngang bằng nhau thì họ sẽ tiếp tục duy trì nỗ lực và hiệu suất làm việc của bản thân. Nếu thù lao nhận được vượt quá mong đợi của họ, họ sẽ có xu hướng gia tăng công sức của họ trong công việc, ngược lại nếu thù lao họ nhận được thấp hơn so với đóng góp của họ, họ sẽ có xu hướng giảm bớt nỗ lực làm việc hoặc tìm các giải pháp khác như vắng mặt trong giờ làm việc, đòi tăng lương, hoặc thôi việc để xác lập công bằng mới. Một cá nhân nếu cảm nhận là họ được đối xử công bằng sẽ thúc đẩy động lực lao động và làm tăng kết quả thực hiện công việc và ngược lại, nếu họ nhận ra rằng mình bị đối xử không bằng từ vấn đề lương bổng, cơ hội đào tạo thăng tiến đến sự hỗ trợ từ cấp trên thì sẽ không có động lực làm việc. Tuy nhiên do các cá nhân thường có xu hướng nhìn nhận phóng đại thành tích bản thân nên rất khó xác lập được sự nhìn nhận công bằng trong tập thể lao động.
Cái khó đối với các nhà quản trị là phải biết kiểm soát tình hình, loại bỏ hoặc hạn chế tối đa sự bất công khi phân chia quyền lợi trong nhóm, tổ chức. * Học thuyết hệ thống hai yếu tố của F. Herzberg Học thuyết hệ thống hai yếu tố được Herberg đưa ra vào năm 1959. Với các kinh nghiệm chuyên môn của mình.
Ông đã chia các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn và không thỏa mãn đối với người lao động thành hai nhóm: Nhóm 1 là nhóm yếu tố tạo sự động lực và sự thỏa mãn cho người thực hiện công việc; đây là nhóm yếu tố 13 thuộc vào lĩnh vực công việc và các nhu cầu cá nhân người lao động; yếu tố này bao gồm những then chốt để tạo động lực và thỏa mãn trong công việc. Nhóm 2 chính là nhóm yếu tố thuộc về môi trường tổ chức; nhóm này mang tính tích cực, giúp ngăn ngừa sự không thỏa mãn của người lao động đối với công việc; nhưng nếu chỉ có nhóm này thì sẽ không đủ tạo ra các động lực và nó không thỏa mãn trong công việc của người lao động. Các yếu tố động viên và duy trì theo quan điểm của F. Herzberg Nhóm 1 Nhóm 2 1.
Sự thành đạt 1. Điều kiện làm việc của người lao 2. Sự tôn vinh, các công nhận thành tích động. của tổ chức, lãnh đạo và các đồng 2.
Sự giám sát và quản lý trong công nghiệp. Đặc điểm và bản chất bên trong của 3. Chính sách và các chế độ quản trị công việc. trong các doanh nghiệp.
Những trách nhiệm trong công việc. Các chính sách về lương và thưởng. Các cơ hội thăng tiến trong công việc. Các mối quan hệ giữa người – người trong doanh nghiệp đó.
Nguồn: http://quantri.vn/dict/details/7844-thuyet-hai-nhan-to-cua-herzberg Học thuyết của Herzberg đã đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến động lực và sự thỏa mãn của những người lao động. Chúng có tác động đến việc thiết kế và thiết kế lại các công việc ở các doanh nghiệp. Nhưng học thuyết này không đem lại tính khả thi vì thực tế đối với những người lao động. Những yếu tố này không tách rời với nhau mà chúng hoạt động, tồn tại song song cùng nhau.
* Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom Thuyết kỳ vọng là một lý thuyết rất quan trọng trong lý thuyết quản trị nhân sự, bổ sung cho lý thuyết về tháp nhu cầu của Abraham Maslow và thuyết công bằng của Stacy Adam.