Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 1999 - 2014 chứng kiến nhiều bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập của nền kinh tế Việt Nam, đi cùng với đó là tình trạng thâm hụt cán cân thương mại kéo dài liên tục từ năm 1992 đến năm 2010. Quy mô nhập siêu gia tăng nhanh chóng từ mức 201 triệu USD vào năm 1999 lên mức đỉnh điểm 18.029 triệu USD vào năm 2008, tương đương mức tăng gần 90 lần. Tỷ lệ thâm hụt thương mại so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong giai đoạn 2007 - 2008 đã vượt xa ngưỡng cảnh báo an toàn 5% do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) khuyến nghị, gây áp lực trực tiếp lên tài khoản vãng lai và dự trữ ngoại hối quốc gia.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ chế và mức độ tác động của các cú sốc giá dầu thế giới đến cán cân thương mại Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam mang tính chất đặc thù khi vừa là quốc gia khai thác xuất khẩu dầu thô (với sản lượng đạt đỉnh 19,5 triệu tấn vào năm 2004), vừa phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nhập khẩu các chế phẩm xăng dầu tinh chế phục vụ tiêu dùng và sản xuất (chiếm bình quân 10% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm). Khi giá dầu thế giới lập đỉnh lịch sử 149 USD/thùng vào năm 2008, các kênh truyền dẫn chi phí và tỷ giá đã tạo nên những xáo trộn đáng kể đối với cán cân mậu dịch.

Mục tiêu cụ thể của công trình nhằm kiểm định thực nghiệm mối quan hệ ngắn hạn lẫn dài hạn giữa giá dầu thế giới, tỷ giá hối đoái thực song phương VND/USD, giá trị sản lượng công nghiệp đối với cán cân thương mại Việt Nam. Nghiên cứu khai thác bộ dữ liệu chuỗi thời gian hàng tháng từ tháng 01/1999 đến tháng 07/2014 (187 quan sát). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở định lượng quan trọng giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện cơ chế điều hành giá xăng dầu theo Nghị định 83/2014/NĐ-CP và tái cấu trúc thương mại bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên hai trụ cột lý thuyết kinh tế vĩ mô nền tảng: Lý thuyết cân bằng Tiết kiệm - Đầu tư (Saving - Investment Identity) và Lý thuyết truyền dẫn cú sốc giá dầu quốc tế.

Theo lý thuyết hấp thu và cân bằng vĩ mô, cán cân thương mại được định hình bởi chênh lệch giữa tiết kiệm quốc gia và tổng đầu tư: TB = S - I = (Sp + Sg) - I, trong đó Sp là tiết kiệm tư nhân và Sg là thặng dư ngân sách chính phủ. Đẳng thức chỉ ra rằng gia tăng thâm hụt ngân sách song hành cùng tăng trưởng đầu tư vượt mức tiết kiệm sẽ dẫn tới hiện tượng "thâm hụt kép" (Twin Deficits) trên tài khoản vãng lai và ngân sách nhà nước, một tình trạng mà Việt Nam đã trải qua trong giai đoạn 2000 - 2011 với tỷ lệ thâm hụt thương mại/GDP thường xuyên vượt trên 10%.

Lý thuyết truyền dẫn giá dầu của Kilian và các cộng sự (2009) cùng Hassan và Zaman (2012) giải thích cơ chế tác động thông qua ba kênh chính: chi phí đẩy, phân bổ lại thu nhập quốc tế và biến động tỷ giá. Khi giá dầu tăng, chi phí nguyên liệu đầu vào leo thang làm giảm biên lợi nhuận của ngành công nghiệp, thu hẹp sản lượng xuất khẩu và kích hoạt lạm phát.

Các khái niệm chính được vận dụng xuyên suốt gồm: Cán cân thương mại (Trade Balance - TB), Giá dầu chuẩn Dubai Fateh (LNOIL), Tỷ giá thực song phương VND/USD (LNEX) và Chỉ số sản lượng công nghiệp (IP) làm đại diện cho quy mô hoạt động kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu thứ cấp gồm 187 quan sát theo tần suất tháng, trải dài suốt 15 năm (từ tháng 01/1999 đến tháng 07/2014). Nguồn số liệu được thu thập nhất quán từ Thống kê Tài chính Quốc tế (IFS của IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO). Toàn bộ chuỗi dữ liệu được chuyển đổi sang dạng logarit tự nhiên và loại bỏ yếu tố mùa vụ thông qua thuật toán Census X12.

Quy trình phân tích kinh tế lượng được thực hiện theo các bước chặt chẽ:

  • Kiểm định tính dừng bằng phương pháp nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF), kết quả chỉ ra các chuỗi số liệu đều không dừng ở bậc gốc I(0) nhưng đạt tính dừng ở sai phân bậc một I(1).
  • Kiểm định đồng liên kết Johansen: Kết quả kiểm định cho thấy không tồn tại vector đồng liên kết dài hạn giữa các biến số tại thị trường Việt Nam.
  • Lựa chọn mô hình: Do không có quan hệ đồng liên kết, tác giả lựa chọn Mô hình Tự hồi quy Vector (VAR) với độ trễ tối ưu p = 6 (xác định đồng thời qua các tiêu chuẩn AIC, SC, HQ, FPE) thay vì mô hình VECM hay ARDL như nghiên cứu gốc của Hassan và Zaman (2012).
  • Kiểm định độ tin cậy: Mô hình VAR thỏa mãn điều kiện ổn định với tất cả các nghiệm của đa thức đặc trưng nằm bên trong đường tròn đơn vị, đồng thời vượt qua kiểm định Breusch-Godfrey LM về không tự tương quan phần dư. Kỹ thuật Phân tích Phản ứng xung (IRF) và Phân rã Phương sai sai số dự báo (FEVD) được áp dụng để lượng hóa tác động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô hình định lượng và phân tích thực nghiệm đã chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi về cấu trúc ngoại thương Việt Nam:

Thứ nhất, cú sốc tăng giá dầu thế giới có tác động tiêu cực đến cán cân thương mại Việt Nam nhưng biên độ ảnh hưởng tương đối nhỏ và nhanh chóng triệt tiêu sau khoảng 3 đến 5 tháng. Sự biến động của giá dầu chỉ giải thích khoảng 2% đến 4% sự thay đổi phương sai sai số dự báo của cán cân mậu dịch.

Thứ hai, tác động của giá dầu bị phân hóa nhờ cơ chế tự triệt tiêu giữa hai dòng chảy ngoại thương. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô từng đạt mức đỉnh 10,3 tỷ USD vào năm 2008 (tăng 20% so với năm 2007 dù sản lượng khai thác sụt giảm còn 14 triệu tấn do giá dầu đạt kỷ lục 149 USD/thùng). Khoản thu ngoại tệ lớn từ xuất khẩu dầu thô đã bù đắp đáng kể cho chi phí nhập khẩu xăng dầu thành phẩm (vốn tiêu tốn khoảng 6 đến 8 tỷ USD/năm trong giai đoạn 2008 - 2014).

Thứ ba, cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng mang tính kinh niên. Nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tỷ trọng áp đảo trung bình 90% tổng giá trị nhập khẩu giai đoạn 1999 - 2013 (trong đó nguyên, nhiên vật liệu chiếm 60% và máy móc thiết bị chiếm 30%), trong khi hàng tiêu dùng chỉ chiếm dưới 10%.

Thứ tư, tình trạng nhập siêu ngày càng trầm trọng tập trung vào thị trường Trung Quốc. Thâm hụt thương mại song phương với Trung Quốc tăng phi mã từ mức dưới 1 tỷ USD năm 2000 lên mức kỷ lục 28.962 triệu USD vào năm 2014, chiếm phần lớn tổng mức thâm hụt thương mại của cả nước.

Thảo luận kết quả

Khi biểu diễn các phát hiện qua đồ thị hàm phản ứng xung (IRF), đường phản ứng của cán cân thương mại trước cú sốc giá dầu chỉ dao động nhẹ dưới trục hoành trong những tháng đầu rồi nhanh chóng tiệm cận đường cân bằng số 0. Bảng phân rã phương sai cũng xác nhận phần lớn biến động của cán cân thương mại tự thân nó giải thích hơn 85% phương sai trong dài hạn.

Kết quả này có sự khác biệt rõ rệt so với nghiên cứu tại Pakistan của Hassan và Zaman (2012) - nơi giá dầu có hệ số co giãn âm mạnh tới -0,382% do nước này thuần túy nhập khẩu năng lượng. Tại Việt Nam, do vai trò kép của ngành dầu khí, nguyên nhân gốc rễ gây thâm hụt thương mại không nằm ở giá dầu mà xuất phát từ năng lực nội tại của nền công nghiệp chế biến, chế tạo.

Số liệu so sánh quốc tế cho thấy giá trị gia tăng công nghiệp bình quân trên một lao động (MVA/lao động) của Việt Nam năm 2009 chỉ đạt 1.330 USD, bằng khoảng 1/5,3 so với Trung Quốc (7.050 USD) và 1/10,5 so với Malaysia (13.965 USD). Nền sản xuất nội địa mang nặng tính gia công, phụ thuộc vào linh kiện và bán thành phẩm nhập khẩu do toàn ngành công nghiệp phụ trợ chỉ có khoảng 1.000 doanh nghiệp hoạt động tính đến năm 2013, quy mô nhỏ bé và công nghệ lạc hậu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát rủi ro biến động giá năng lượng và tái lập cân bằng cán cân thương mại bền vững, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế điều hành giá xăng dầu trong nước theo nguyên tắc thị trường. Bộ Công Thương phối hợp Bộ Tài chính thực thi nghiêm túc Nghị định 83/2014/NĐ-CP (thay thế Nghị định 84/2009/NĐ-CP), rút ngắn chu kỳ tính giá cơ sở từ 30 ngày xuống 15 ngày, minh bạch hóa công thức trích lập và sử dụng Quỹ Bình ổn giá. Mục tiêu hướng tới việc chấm dứt tình trạng bù lỗ ngân sách kéo dài, đảm bảo giá bán lẻ trong nước bám sát thị trường thế giới trong giai đoạn 2015 - 2018.

Thứ hai, đẩy mạnh tái cấu trúc và phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Bộ Tài chính triển khai quyết liệt Quyết định 12/2011/QĐ-TTg và Quyết định 1483/QĐ-TTg, ưu đãi tối đa về thuế thu nhập doanh nghiệp và mặt bằng sản xuất. Mục tiêu nâng tổng số doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ từ 1.000 doanh nghiệp lên 3.000 doanh nghiệp vào năm 2020, nâng tỷ lệ nội địa hóa ngành dệt may và da giày từ mức 30% lên tối thiểu 60%.

Thứ ba, nâng cao năng lực lọc hóa dầu và chế biến sâu tài nguyên. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) tập trung nguồn lực vận hành ổn định Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và đẩy nhanh tiến độ dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Mục tiêu đến giai đoạn 2018 - 2020 đáp ứng từ 65% đến 70% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu nội địa, giảm dần tỷ trọng nhập khẩu xăng dầu thương phẩm từ mức 10% kim ngạch xuống dưới 4%.

Thứ tư, tái cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu nhằm giảm phụ thuộc đơn phương. Bộ Công Thương chủ trì xây dựng hàng rào kỹ thuật và quy chuẩn an toàn vệ sinh đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu, kiểm soát chặt chẽ các gói thầu EPC nhằm giảm mức thâm hụt thương mại từ thị trường Trung Quốc từ mức 28.962 triệu USD năm 2014 xuống ngưỡng an toàn dưới 15% tổng kim ngạch song phương trong giai đoạn 2015 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô và năng lượng: Các chuyên gia tại Bộ Công Thương, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể sử dụng kết quả kiểm định VAR để đánh giá độ trễ truyền dẫn của tỷ giá thực và giá năng lượng, từ đó xây dựng kịch bản điều hành tỷ giá và giá cơ sở xăng dầu linh hoạt.

  2. Chuyên gia phân tích kinh tế và nghiên cứu thị trường hàng hóa: Các khối nghiên cứu thuộc ngân hàng thương mại, quỹ đầu tư và công ty chứng khoán có thể tham khảo phương pháp xử lý chuỗi thời gian bằng Census X12 và mô hình phản ứng xung để dự báo cán cân thanh toán tổng thể khi thị trường dầu mỏ thế giới có biến động lớn.

  3. Lãnh đạo doanh nghiệp xuất nhập khẩu và lọc hóa dầu: Giám đốc điều hành, nhà quản trị chuỗi cung ứng trong các ngành thâm dụng năng lượng và thương mại xăng dầu có cơ sở xây dựng chiến lược phòng ngừa rủi ro tỷ giá và biến động giá hàng hóa phái sinh.

  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế: Tài liệu cung cấp một quy trình mẫu chuẩn mực về cách thiết lập mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian I(1) không đồng liên kết, kiểm định nghiệm đơn vị ADF và phân tích phân rã phương sai trên phần mềm EViews.

Câu hỏi thường gặp

Biến động giá dầu thế giới tác động như thế nào đến cán cân thương mại Việt Nam?
Giá dầu thế giới làm gia tăng thâm hụt thương mại trong ngắn hạn nhưng mức độ tác động rất nhỏ và triệt tiêu hoàn toàn sau 3 đến 5 tháng. Lý do là Việt Nam vừa xuất khẩu dầu thô (đạt đỉnh 10,3 tỷ USD năm 2008) vừa nhập khẩu xăng dầu thành phẩm (khoảng 10% kim ngạch), tạo nên cơ chế tự bù trừ rủi ro tự nhiên.

Tại sao nghiên cứu lại sử dụng mô hình VAR thay vì VECM hay ARDL?
Dữ liệu 187 quan sát hàng tháng giai đoạn 1999 - 2014 cho thấy các chuỗi đều dừng ở sai phân bậc 1 nhưng kiểm định Johansen khẳng định không tồn tại vector đồng liên kết dài hạn. Theo quy tắc kinh tế lượng chuẩn tắc, mô hình Vector tự hồi quy (VAR) với độ trễ bậc 6 là lựa chọn phù hợp và hiệu quả nhất.

Nguyên nhân cốt lõi gây ra tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài tại Việt Nam là gì?
Thâm hụt thương mại (đạt đỉnh 18.029 triệu USD năm 2008) bắt nguồn từ việc nhập khẩu tới 90% tư liệu sản xuất và máy móc do công nghiệp hỗ trợ kém phát triển. Đồng thời, nhập siêu từ Trung Quốc lên tới 28.962 triệu USD năm 2014 phản ánh tình trạng sản xuất nội địa mang nặng tính gia công xuất khẩu.

Tỷ giá thực VND/USD có vai trò gì trong việc điều chỉnh cán cân thương mại?
Tỷ giá thực có tác động tích cực đến cán cân thương mại nhưng độ trễ kéo dài từ 3 đến 6 tháng. Việc phá giá đồng tiền ngắn hạn không giúp cải thiện mạnh xuất khẩu do tỷ trọng nguyên phụ liệu nhập khẩu cấu thành trong hàng xuất khẩu của Việt Nam chiếm tới hơn 70% giá trị.

Nghị định 83/2014/NĐ-CP đã giải quyết những bất cập nào của thị trường xăng dầu?
Nghị định 83/2014/NĐ-CP thay thế Nghị định 84/2009/NĐ-CP giúp minh bạch hóa công thức hình thành giá cơ sở, mở rộng từ 3 lên 5 thành phần tham gia thị trường phân phối và rút ngắn độ trễ điều hành giá, tạo cơ chế cạnh tranh bình đẳng và giảm gánh nặng bù giá của ngân sách nhà nước.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định thực nghiệm: Cú sốc giá dầu thế giới tác động không lớn và chỉ mang tính ngắn hạn (dưới 5 tháng) đối với cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 1999 - 2014.
  • Nhập siêu của Việt Nam mang tính cấu trúc với 90% kim ngạch nhập khẩu là tư liệu sản xuất và thâm hụt song phương từ Trung Quốc đạt 28.962 triệu USD năm 2014.
  • Năng lực tạo giá trị gia tăng công nghiệp (MVA) của lao động Việt Nam ở mức thấp (1.330 USD năm 2009), phản ánh hạn chế lớn của ngành công nghiệp phụ trợ.
  • Cơ chế quản lý thị trường xăng dầu đã có bước chuyển biến căn bản từ cơ chế bù giá thụ động sang vận hành theo tín hiệu thị trường với Nghị định 83/2014/NĐ-CP.
  • Mô hình VAR 187 quan sát cung cấp phương pháp luận chuẩn xác cho các nghiên cứu chuỗi thời gian vĩ mô tại các nền kinh tế đang chuyển đổi.

Về định hướng nghiên cứu tiếp theo trong giai đoạn 2015 - 2025, các nhà nghiên cứu cần mở rộng mô hình SVAR hoặc TVP-VAR để đo lường tính bất đối xứng của giá dầu trong bối cảnh các nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Dung Quất đi vào vận hành tối đa công suất. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và chuyên viên phân tích chính sách hãy kết nối và khai thác kho dữ liệu để tiếp tục phát triển các giải pháp nâng cao nội lực kinh tế Việt Nam.