Mở đầu - Chương 2: Tổng quan lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa giá dầu và cán cân thương mại - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận và các hàm ý chính sách 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ DẦU VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI Cán cân thương mại hay còn gọi là cán cân mậu dịch, thành phần chủ yếu trong tài khoản vãng lai, đây là thu ật ngữ để chỉ chênh lệch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia. Một thâm hụt trong cán cân thương mại tiêu biểu một giá trị hàng nhập khẩu lớn hơn hàng xuất khẩu. Ngược lại, thặng dư thương mại phản ánh giá trị hàng xuất khẩu lớn hơn giá trị hàng nhập khẩu. Cán cân thương mại dưới góc độ xuất nhập khẩu Dưới góc độ xuất nhập khẩu, cán cân này phản ánh những khoảng thu chi về xuất nhập khẩu hàng hóa trong một thời kỳ nhất định.
Khi cán cân thương mại thặng dư điều này có nghĩa là nư ớc đó đã thu đư ợc từ xuất khẩu nhiều hơn phải trả cho nhập khẩu và ngược lại, khi cán cân thương mại thâm hụt điều này có nghĩa là nư ớc đó đã thu được từ xuất khẩu ít hơn phải trả cho nhập khẩu. Cán cân thương mại (TB) = Giá trị xuất khẩu (X) – Giá trị nhập khẩu (M) Cán cân thương mại thặng dư khi (X-M) > 0; ngược lại, cán cân thương mại thâm hụt khi (X-M) < 0. Nhiều quan điểm nghiên cứu cho rằng có bốn nhân tố ảnh hưởng chính đến cán cân thương mại bao gồm: - Lạm phát; - Thu nhập quốc dân; - Tỷ giá hối đoái; - Các biện pháp hạn chế của chính phủ. Ảnh hưởng của lạm phát: Nếu một quốc gia có tỷ lệ lạm phát tăng so với các quốc gia khác có quan hệ mậu dịch thì cán cân thương m ại sẽ thâm hụt nếu các yếu tố khác không đổi.
Bởi vì người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong nước hầu như sẽ mua hàng nhiều hơn từ nước ngoài, trong khi xuất khẩu sang nước khác lại sụt giảm. Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân: Nếu thu nhập của một quốc gia tăng theo một tỷ lệ cao hơn tỷ lệ tăng của quốc gia khác, cán cân thương mại sẽ thâm hụt nếu 6 các yếu tố khác bằng nhau. Do mức thu nhập thực tế tăng nhu cầu tiêu thụ hàng hóa cũng tăng nhất là đối với các hàng hóa nhập khẩu. Để minh họa có thể xem xét nghiên cứu của Singh (2002) về trường hợp của Ấn Độ, nghiên cứu chỉ ra rằng hệ số tương quan giữa thu nhập quốc dân thực của Ấn Độ với cán cân thương mại nước này là (-1,87) nếu cố định các yếu tố ảnh hưởng khác.
Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái: Nếu đồng tiền của một nước bắt đầu tăng giá so với đồng tiền của các nước khác thì cán cân thương m ại sẽ thâm hụt nếu các yếu tố khác bằng nhau, hàng hóa xuất khẩu từ nước này sẽ trở nên đắt hơn đối với nước nhập khẩu nếu đồng tiền của họ mạnh, kết quả nhu cầu hàng hóa đó sẽ giảm. Để minh họa, Qnafowora’s (2003) kiểm định ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá thực với cán cân thương mại. Nghiên cứu của Qnafowora’s điều tra ba nước ASEAN là Malaysia, Indonesia và Thái Lan trong thương mại song phương với Hoa Kỳ và Nhật Bản bằng cách sử dụng mô hình sửa lỗi đồng liên kết (Vector Error Correction Model (VECM)). Kết quả cho thấy trong dài hạn tỷ giá thực tế ảnh hưởng tích cực lên cán cân thương mại trong các trường hợp, khi cố định các yếu tố khác, hệ số tương quan được tìm thấy như sau: Indonesia – Nhật Bản (+0,351), Indonesia – US (+0,243), Malaysia – Nhật Bản (+1,252), Malaysia – US (+0,644), Thái Lan – Nhật Bản (+1,082) và Thái Lan – US (+1,665).
Ảnh hưởng của các biện pháp hạn chế của chính phủ: nếu chính phủ của một quốc gia đánh thuế trên hàng nhập khẩu, giá của hàng nước ngoài tăng lên trên thực tế, nếu không có trả đũa thương mại, cán cân thương mại sẽ được cải thiện. Ngoài thuế nhập khẩu, các chính phủ còn có thể sử dụng hạn ngạch nhập khẩu để cắt giảm nhập khẩu hướng đến cải thiện cán cân thương mại. Cán cân thương mại theo cách tiếp cận mối quan hệ giữa đầu tư và tiết kiệm 2. Quan hệ cán cân thương mại đối với đầu tư và tiết kiệm Theo lý thuyết kinh tế học dưới góc độ đầu tư và tiết kiệm, thâm hụt thương mại (thành phần chính gây thâm hụt tài khoản vãng lai) là do sự mất cân đối giữa đầu tư và tiết kiệm.
Chúng ta sử dụng một đẳng thức cơ bản trong kinh tế học nói lên quan hệ giữa thâm hụt thương mại, mức tiết kiệm và đầu tư như sau: TB = S – I 7 Trong đó, TB (trade balance) là mức thâm hụt/ thặng dư của cán cân thương mại, S (domestic savings) là mức tiết kiệm trong nền kinh tế và I (investment) là đầu tư. Đẳng thức cơ bản này cho thấy rõ mối quan hệ giữa thâm hụt cán cân thương mại (nhập siêu) với mức tiết kiệm và đầu tư trong nước. Cũng theo đẳng thức này, vấn đề của thâm hụt cán cân thương mại không nằm ở chính sách thương mại, mà có nguồn gốc ở các vấn đề kinh tế vĩ mô. Thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại Một trong những nguyên nhân gây ra thâm hụt thương mại chính là thâm hụt ngân sách nhà nước, để thấy được mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại, ta viết lại đẳng thức ở trên như sau: TB = Sp + Sg – I = (Y – T – C) + (T – G) – I Trong đó, Sp là tiết kiệm của khu vực tư nhân, Sg là chênh lệch giữa thu ngân sách (T) và chi tiêu của chính phủ (G).
Con số chênh lệch giữa thu (T) và chi ngân sách (G) chính là thâm hụt ngân sách. Từ đẳng thức trên, ta thấy việc tăng tiết kiệm của khu vực tư nhân sẽ cải thiện thâm hụt thương mại. Việc tăng đầu tư và tăng thâm hụt ngân sách sẽ dẫn tới thâm hụt thương mại (nguyên nhân chính làm thâm hụt tài khoản vãng lai). Và như v ậy, nếu các yếu tố khác không thay đổi, thì rất có thể chính thâm hụt ngân sách sẽ dẫn tới thâm hụt thương mại nói riêng và tài khoản vãng lại nói chung.
Một trong những nguy cơ gây ra khủng hoảng kinh tế, đó là vấn đề thâm hụt kép: vừa thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, lại vừa thâm hụt ngân sách chính phủ cũng lớn. Hiện nay, theo các báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) thì dường như Việt Nam đang gặp phải vấn đề thâm hụt kép. Vai trò của giá dầu đối với cán cân thương mại Theo nghiên cứu của Kilian et al., (2009) và Le and Chang (2013), mức độ ảnh hưởng cũng như khoảng thời gian thay đổi của cán cân thương mại khi giá dầu tăng tại các nước nhập khẩu dầu tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra các cú shock và phương thức truyền dẫn các cú shock này. Các cú shock giá dầu trước đây phần lớn là do các sự kiện địa lý chính trị, quân sự hay nhu cầu tiêu thụ dầu gia tăng đột ngột dẫn đến sự chuyển dịch mạnh mẽ tài chính từ các nước nhập khẩu dầu sang các 8 nước xuất khẩu.
Ngoài ra, với sự phát triển của kỹ thuật mới để khai thác đá phiến tại Bắc Mỹ và một số nơi khác cũng là nguyên nhân gây nên biến đổi mạnh mẽ giá dầu trong thời gian gần đây. Nhu cầu về năng lượng dầu không co giãn theo giá trong ngắn hạn do năng lực sản xuất, tiêu thụ và dự trữ không thể điều chỉnh trong ngắn hạn, đều này dẫn đến khi giá dầu tăng cao chi phí nhập khẩu dầu tại các nước cũng tăng lên đáng kể. Qua thời gian, cân bằng cán cân thương mại sẽ được điều chỉnh thông qua sự thay đổi của các nhân tố chi phí, tỷ giá và sự thay đổi trong sản xuất, tiêu dùng hàng hóa dịch vụ. Cũng theo nghiên cứu của Kilian et al., (2009) và Le and Chang (2013), giá dầu biến động làm thay đổi giá cả, khối lượng hàng hóa dịch vụ giao dịch và thay đổi các danh mục đầu tư ra bên ngoài.
Dầu tăng giá khiến cho giá thành sản xuất cao hơn do giá nguyên liệu đầu vào nhập khẩu tăng, đồng thời với sự không linh hoạt của vòng quay vốn và các chính sách về tiền lương cũng góp phần làm tăng chi phí sản xuất trực tiếp. Giá cả hàng hóa trong nước tăng, trong khi tiền lương không thay đổi sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát. Để giữ cho lạm phát không leo thang nhà nước cần phải điều chỉnh thông qua thị trường tiền tệ bằng cách tăng lãi su ất.Những điều chỉnh này làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tếvà cán cân thương mại quốc gia đó. Cụ thể lúc này đồng tiền tăng giá sẽ đẩy mạnh nhập khẩu và giảm xuất khẩu, từ đó dẫn đến cán cân thương mại ngày càng thâm hụt.
Tiếp cận theo một cách nhìn khác, khi giá dầu tăng thu nhập sẽ chuyển từ các nước nhập khẩu dầu sang các nước xuất khẩu dầu. Tại các nước nhập khẩu dầu lúc này, nếu chính phủ vẫn muốn duy trì mức độ chi tiêu thì phải giảm các khoản tiết kiệm.Vay nợ nước ngoài là cách để chính phủ bù đắp cho khoản giảm tiết kiệm để vẫn đảm bảo ổn định trong hoạt động đầu tư của nền kinh tế. Tuy nhiên tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn khi giá dầu liên tục tăng hay tăng quá mạnh sẽ khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài nghi ngờ về khả năng thu hồi các khoản vay của họ trong tương lai. Trường hợp xấu có thể xảy ra chính là dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.
Với hai cách nhìn nhận trên, có thể thấy rằng khi giá dầu tăng có thể gây ra tình trạng thâm hụt kép tại các nước nhập khẩu dầu. 9 Ảnh hưởng giá dầu đến toàn bộ nền kinh tế được tóm tắt như sau: khi xảy ra cú sốc giá dầu tăng sẽ làm tăng giá năng lượng, dẫn đến tăng chi phí sản xuất. Khi chi phí sản xuất tăng sản lượng đầu ra sẽ giảm từ đó làm giảm GDP. Giá dầu tăng gián tiếp làm biến động tỷ giá thông qua dòng ngoại tệ từ nhập khẩu dầu thay đổi cũng như từ sụt giảm lượng hàng hóa xuất khẩu ra thế giới.