phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung đề tài đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro và an ninh phi truyền thống Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong công tác trinh sát của Cảnh sát kinh tế Lạng Sơn tại huyện Cao Lộc Chƣơng 3: Giải pháp cơ bản nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong công tác trinh sát Cảnh sát kinh tế Lạng Sơn tại huyện Cao Lộc 6 download by : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG 1. Các khái niệm, phân loại về quản trị rủi ro 1. Khái niệm rủi ro Rủi ro là một khái niệm phổ biến, hầu nhƣ ai cũng có thể biết đến phạm trù này. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa thấy có sự thống nhất về khái niệm rủi ro.
Tùy theo các nghiên cứu và các trƣờng phái, cách tiếp cận khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về rủi ro. Vì vậy, hiện nay định nghĩa này rất phong phú và đa dạng. AllanWillett cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”, quan điểm này nhận đƣợc sự ủng hộ của một số học giả nhƣ Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Klup, Anghell,. Trong một nghiên cứu của John Haynes, và đƣợc nhắc lại một lần nữa trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế của Irving Pfeffer thì rủi ro là: “khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”.
Tuy nhiên, quan điểm đƣợc xem là hiện đại và nhận đƣợc sự đồng tình cao là của Frank H. Knight khi ông cho rằng: “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được”. Cuốn Kinh tế học hiện đại của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cũng có đề cập đến quan điểm này. Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng nó cùng đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: “Rủi ro là sự không chắc chắn và là khả năng xảy ra kết quả không mong muốn.
Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn. Và kết quả này có thể đem lại tổn thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro”. Để đánh giá một rủi ro, ngƣời ta thƣờng dùng 2 tiêu thức: 7 download by : skknchat@gmail.com - Tần suất xuất hiện rủi ro: là số lần có thể xảy ra rủi ro trong một khoảng thời gian nhất định hay là khoảng cách thời gian trung bình giữa các lần rủi ro xuất hiện. Nếu khoảng thời gian xem xét càng dài thì rủi ro xảy ra càng nhiều.
- Mức độ nghiêm trọng của rủi ro hay tính khốc liệt của tổn thất. Tổn thất là hậu quả của rủi ro. Đối tƣợng chịu ảnh hƣởng của rủi ro khác nhau thì tổn thất gây ra cũng khác nhau. Theo nguồn từ điển Oxford, rủi ro là “khả năng xảy ra mất mát, nguy hiểm, thất thoát, tai nạn hoặc các hậu quả khôn lường khác…”.
Khải niệm về rủi ro là một khái niệm đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành nghề, tuy nhiên, bản chất của rủi ro không hề đơn giản và có sự thay đổi, chuyển dịch trong định nghĩa khi áp dụng trong mỗi ngành nghề khác nhau. Rủi ro trong tài chính liên quan đến khả năng thất thoát về tải sản trong khi rủi ro trong kinh tế lại ám chỉ những điểm chƣa rõ (uncertainty) trong khi tính toán, hay rủi ro trong việc đầu tƣ đơn giản chỉ là các tồn tại chƣa đƣợc tính toán hết và đôi lúc không phải là việc xấu – nhiều rủi ro, nhiều cơ hội là một khái niệm đƣợc nhiều ngƣời biết đến trong đầu tƣ v. Việc đạt đƣợc một khái niệm nhất quán về rủi ro là không khả thi. Tuy nhiên, từ những phân tích, luận giải trên, chúng ta có thể hiểu rủi ro là tập hợp của các khả năng có thể xảy ra của một sự việc nào đó cũng nhƣ hậu quả của nó.
Đó là những điều xảy ra ngoài sự mong muốn của chủ thể; gây ra những tác động tiêu cực đến quá trình vận động của sự vật, hiện tƣợng liên quan đến mục đích của một chủ thể nhất định. Từ nhận thức trên, ta có thể thấy một số đặc tính chung rủi ro: (a) khả năng xảy ra sự cố đáng tiếc, (b) khả năng nhận ra các hậu quả tiêu cực, không mong muốn của một sự kiện, 8 download by : skknchat@gmail.com (c) tiếp xúc với một đề xuất (ví dụ: sự xuất hiện của một mất mát) trong đó một điều không chắc chắn, (d) hậu quả của hoạt động và các yếu tố không chắc chắn liên quan, (e) không chắc chắn về và mức độ nghiêm trọng của hậu quả của một hoạt động liên quan đến điều gì đó mà con ngƣời coi trọng, (f) sự xuất hiện của một số hậu quả đƣợc chỉ định của hoạt động và các yếu tố không chắc chắn liên quan, (g) độ lệch so với giá trị tham chiếu và độ không đảm bảo có liên quan. Phân loại rủi ro 1. Rủi ro thuần túy và rủi ro theo suy tính Rủi ro thuần túy là loại rủi ro mà nếu có xảy ra sẽ dẫn đến kết quả tổn thất về kinh tế.
Loại rủi ro này có đặc điểm sau: Thứ nhất, rủi ro thuần túy nếu xảy ra thƣờng đƣa đến kết quả mất mát hoặc tổn thất. Thứ hai, rủi ro thuần túy là loại rủi ro liên quan đến việc phá hủy tài sản (nếu hỏa hoạn thì tòa nhà bị phá hủy). Thứ ba, biện pháp đối phó với rủi ro này là bảo hiểm. Rủi ro suy tính là loại rủi ro do ảnh hƣởng của những nguyên nhân khó dự đoán, phạm vi ảnh hƣởng rất rộng lớn.
Rủi ro suy tính là loại rủi ro thƣờng xảy ra trong thực tế. Ví dụ, rủi ro thay đổi giá cả, mức thuế không ổn định, tình hình chính trị không ổn định. Tăng giá có thể mang lại nhiều lời cho ngƣời có tồn kho nhiều và giảm giá làm họ bị thua thiệt lớn. Đặc điểm cơ bản của loại rủi ro này là thƣờng không đƣợc bảo hiểm nhƣng có thế đối phó bằng biện pháp rào chắn (hedging).
Rủi ro có thể tính được và không tính được Rủi ro có thể tính đƣợc là loại rủi ro mà tần số xuất hiện của nó có thể tiên đoán đƣợc ở một mức độ tin cậy nhất định. Rủi ro không thể tính đƣợc là rủi ro mà tần số xuất hiện của nó quá bất thƣờng và rất khó dự đoán đƣợc. 9 download by : skknchat@gmail.com Thực tế không có loại rủi ro nào nằm hẳn về một cực. Khái niệm chỉ về hình thức.
Hầu hết các rủi ro nằm ở giữa hai cực ranh giới. Do đó, giữa hai cực này có vô số mức độ chính xác và độ tin cậy khác nhau khi dự đoán. Khả năng đo lƣờng mang tính chất tƣơng đối. Một số có thể đo lƣờng đƣợc nhiều, một số đo đƣợc ít hơn.
Rủi ro có thể bảo hiểm và rủi ro không thể bảo hiểm Những rủi ro đƣợc bảo hiểm: rủi ro thiên tai, tai nạn, sự cố bất ngờ không lƣờng trƣớc, những rủi ro mà doanh nghiệp có thể nhận bảo hiểm. Những rủi ro không đƣợc bảo hiểm: Rủi ro tài chính, rủi ro riêng, rủi ro động… những rủi ro khác mà doanh nghiệp không thể nhận bảo hiểm. Không phải rủi ro nào cũng có thể đƣợc bảo hiểm. Cơ chế chuyển giao rủi ro cũng có những hạn chế của nó, chẳng hạn, sẽ không sáng suốt nếu để cho ngƣời ta hƣởng lợi từ những hành động phạm tội của mình.
Cũng sẽ không đúng nếu để cho một ngƣời nào đó mua bảo hiểm cho ngôi nhà hàng xóm, sau đó đốt ngôi nhà đó để nhận tiền bồi thƣờng. Dù không có ý định phạm tội thì cũng sẽ không đúng nếu để cho một ngƣời nào đó đƣợc lợi từ việc cháy ngôi nhà hàng xóm trong khi ngƣời đó không hề có quyền lợi gì trong ngôi nhà bị cháy. Vì vậy, cần phải có một vài ý niệm về cái có thể đƣợc bảo hiểm và cái không thể đƣợc bảo hiểm. Chúng ta sẽ hiểu đƣợc điều đó khi xem xét các đặc tính và tính chất của những rủi ro có thể đƣợc bảo hiểm.
Tuy nhiên, có một điểm quan trọng cần nêu lên là không nên giáo điều vì ranh giới của những rủi ro có thể đƣợc bảo hiểm và những rủi ro không thể bảo hiểm có thể thay đổi. Thế giới kinh doanh không phải là một môi trƣờng tĩnh. Nó có thể thay đổi để điều chỉnh các tình huống theo ý muốn, cái mà ngày hôm nay coi là không thể đƣợc bảo hiểm thì ngày mai lại có thể trở thành cái có thể đƣợc bảo hiểm. Tuy nhiên, một rủi ro có thể đƣợc bảo hiểm phải hội đủ những đặc tính sau đây: 10 download by : skknchat@gmail.com * Tổn thất phải mang tính chất ngẫu nhiên Một sự kiện có thể đƣợc bảo hiểm phải là hoàn toàn ngẫu nhiên đứng trên góc độ của ngƣời đƣợc bảo hiểm.
Không thể nào bảo hiểm một sự kiện chắc chắn sẽ xảy ra bởi vì nó không mang tính chất ngẫu nhiên và do đó việc chuyển giao rủi ro sẽ không xảy ra. * Phải đo đƣợc, định lƣợng đƣợc về tài chính Ý nghĩa của bảo hiểm chính là ở chỗ nó phát huy tác dụng nhƣ một cơ chế chuyển giao rủi ro và bù đắp về tài chính cho những rủi ro xảy ra. Bảo hiểm không thể loại bỏ đƣợc rủi ro, nhƣng nó có trách nhiệm bảo vệ về mặt tài chính để đối phó với hậu quả của những tổn thất xảy ra. * Phải có số lớn Nếu số lƣợng đối tƣợng hứng chịu cùng một rủi ro đủ lớn thì ngƣời bảo hiểm có thể dự đoán trƣớc đƣợc mức độ tổn thất mà họ có thể phải chịu.
Nếu số đối tƣợng hứng chịu rủi ro cùng loại không đủ lớn (không có số lớn) thì nhiệm vụ sẽ khó khăn hơn nhiều và việc tính toán số phí bảo hiểm cần thu sẽ chỉ là sự phỏng đoán có thông tin chứ không thể là sự tính toán chính xác bằng toán học. * Không trái với chuẩn mực đạo đức của xã hội Nguyên tắc chung đƣợc pháp luật công nhận là hợp đồng ký kết không đƣợc trái với cái mà xã hội cho là chuẩn mực đạo đức và lẽ phải. Chẳng hạn hợp đồng giết ngƣời là không thể chấp nhận đƣợc. Cũng không thể chấp nhận các hợp đồng cố ý huỷ hoại hoặc lấy cắp tài sản của ngƣời khác.
Nguyên tắc không trái với chuẩn mực đạo đức cũng đƣợc áp dụng với các hợp đồng bảo hiểm.