CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm và vai trò của hoạt động quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm về nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực a) Nguồn nhân lực Theo PGS. Nguyễn Tiệp: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” (Giáo trình Nguồn nhân lực, Trường Đại học Lao động - Xã hội, 2005, Tr.
Khái niệm này chỉ NNL với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Theo sách của PGS. Trần Xuân Cầu, PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” (Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2008, Tr.
Nhân lực bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau như: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, sự sáng tạo và tinh thần làm việc. Tổng thể các yếu tố này của con người sẽ tham gia vào quá trình lao động, mục tiêu là đạt được thành công chung cho tổ chức. Từ đó, khái niệm nguồn nhân lực được tiếp cận trong đề án: “Nguồn nhân lực của một doanh nghiệp là toàn bộ khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và có thể huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp”. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008), các yếu tố cấu thành của NNL trong doanh nghiệp bao gồm: Số lượng nhân lực: được biểu hiện thông qua quy mô, tốc độ gia tăng.
Sự phát triển về số lượng NNL dựa vào nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Cơ cấu nhân lực: được thể hiện trên các phương diện như cơ cấu giới tính, độ tuổi, thâm niên trong nghề. Cơ cấu lao động ảnh hưởng tới việc xây dựng, 8 hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực của mỗi doanh nghiệp. Chất lượng nhân lực: được nghiên cứu trên các khía cạnh trình độ (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật), kiến thức, kỹ năng, thể lực, thái độ, tác phong lao động của nguồn nhân lực (Cầu & Chánh, 2008).
b) Quản trị nguồn nhân lực Thuật ngữ Quản trị nhân lực (Human Resources Management – HRM) được sử dụng tại Mỹ vào những năm 50 của thế kỷ trước, hiện nay thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới. Quản trị nhân lực là một trong những chức năng cơ bản của quá trình quản trị, giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến con người gắn với công việc của họ trong bất cứ tổ chức nào. Quản trị nhân lực là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, quản trị nhân lực là một lĩnh vực gắn bó nhiều đến văn hóa tổ chức và chứa đựng nhiều giá trị nhân văn hơn bất cứ một lĩnh vực quản trị nào khác. Quản trị nhân lực có thể đề cập dưới 2 góc độ: Theo nghĩa rộng thì quản trị nhân lực là tổng thể những nhiệm vụ cần có để tác động vào yếu tố con người trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng suất lao động và bảo đảm phát triển toàn diện của con người trong lao động, vừa đảm bảo mục tiêu kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu xã hội.
Với khái niệm này thì quản trị nhân lực đó chính là việc quản lý con người trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp, là sự đối xử của tổ chức với người lao động. Việc quản lý này làm sao cho người lao động phát huy tối đa khả năng của mình, phải hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích doanh nghiệp nhằm đưa doanh nghiệp phát triển bền vững. Theo nghĩa hẹp, quản trị nhân lực là việc tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho lao động trong phạm vi doanh nghiệp. Như vậy có thể nói, quản trị nguồn nhân lực là khoa học về quản lý con người bởi con người đóng vai trò quan trọng bậc nhất đến sự thành công và phát triển bền vững của doanh nghiệp từ đó nhà quản lý đưa ra được những quyết định chiến lược về sử dụng nguồn nhân lực một cách có hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu 9 của tổ chức (PSG.
Nguyễn Ngọc Quân, ThS. Nguyễn Văn Điểm 2013, trang 8). Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) đã và đang trở thành một chức năng chiến lược, giữ vai trò then chốt trong quá trình vận hành và phát triển của doanh nghiệp. QTNNL không chỉ là công cụ quản lý hành chính về con người, mà còn là cơ chế tạo ra giá trị thông qua việc tối ưu hóa năng lực cá nhân, xây dựng môi trường làm việc hiệu quả và thúc đẩy đổi mới sáng tạo (Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB ĐH Kinh tế Quốc dân, tr.
Từ góc nhìn nội tại của doanh nghiệp, QTNNL giữ nhiều vai trò thiết yếu, được thể hiện qua các khía cạnh cụ thể dưới đây. Thứ nhất, QTNNL đảm bảo cho doanh nghiệp có được đội ngũ nhân sự phù hợp về cả số lượng và chất lượng để thực hiện các mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn phát triển. Thông qua các hoạt động hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc và xây dựng kế hoạch tuyển dụng, doanh nghiệp có thể chủ động đáp ứng nhu cầu nhân sự của từng phòng ban, từng dự án, hạn chế tình trạng thiếu hụt lao động hoặc thừa nhân sự cục bộ. Việc bố trí, sắp xếp lao động hợp lý theo đúng năng lực và chuyên môn của từng cá nhân sẽ góp phần phát huy tối đa hiệu suất làm việc, đồng thời gia tăng giá trị sử dụng của nguồn nhân lực.
Thứ hai, QTNNL đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chi phí nhân sự và nâng cao hiệu suất lao động. Trong các doanh nghiệp hiện đại, việc áp dụng hệ thống đánh giá hiệu quả công việc gắn với chỉ số đo lường (KPIs, OKRs) giúp đo lường kết quả làm việc của cá nhân và tập thể một cách minh bạch, chính xác. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể điều chỉnh chính sách lương thưởng, khen thưởng hoặc điều động nhân sự kịp thời, đảm bảo sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Chi phí dành cho nhân sự, vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí doanh nghiệp, nhờ vậy được kiểm soát và phân bổ hợp lý hơn.
Thứ ba, QTNNL là công cụ cốt lõi trong chiến lược thu hút, phát triển và giữ chân nhân tài. Trong bối cảnh cạnh tranh lao động ngày càng gay gắt, đặc biệt là 10 ở các ngành công nghệ cao như tài chính số và trung gian thanh toán, năng lực tuyển dụng và giữ chân nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Một hệ thống QTNNL hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng, phát triển lộ trình nghề nghiệp rõ ràng, áp dụng các chính sách đãi ngộ linh hoạt và phù hợp với xu hướng thị trường, qua đó gia tăng mức độ gắn bó và trung thành của nhân viên. Thứ tư, QTNNL góp phần xây dựng và duy trì văn hóa doanh nghiệp lành mạnh, thúc đẩy sự đoàn kết và tăng cường tinh thần trách nhiệm trong tổ chức.
Môi trường làm việc thân thiện, đề cao sự công bằng và khuyến khích đổi mới sẽ là nền tảng để đội ngũ nhân sự phát huy tối đa năng lực cá nhân, đồng thời hình thành nên một tập thể có năng lực thích ứng cao, sẵn sàng đón nhận thử thách. Vai trò này đặc biệt có ý nghĩa trong các doanh nghiệp trẻ, đang trong quá trình định hình bản sắc và xây dựng bản lĩnh cạnh tranh trên thị trường. Thứ năm, QTNNL là yếu tố thiết yếu trong việc quản trị rủi ro và đảm bảo tuân thủ pháp luật lao động. Một hệ thống nhân sự được quản lý bài bản sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu các rủi ro liên quan đến tranh chấp lao động, nghỉ việc hàng loạt hoặc vi phạm các quy định về hợp đồng, tiền lương, bảo hiểm.
Đồng thời, với sự phát triển của công nghệ số, các công cụ quản trị nhân sự hiện đại như hệ thống HRM, phân tích dữ liệu nhân sự (HR analytics) hay AI trong đánh giá năng lực, giúp doanh nghiệp tăng cường tính minh bạch, bảo mật và hiệu quả trong quản lý đội ngũ. Cuối cùng, có thể khẳng định rằng quản trị nguồn nhân lực không chỉ là một chức năng hành chính truyền thống, mà đã trở thành một yếu tố chiến lược có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp. QTNNL đóng vai trò cầu nối giữa chiến lược phát triển doanh nghiệp với thực tiễn triển khai thông qua con người – nhân tố trung tâm của mọi quá trình sản xuất, đổi mới và phát triển. Việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của QTNNL sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng năng lực cạnh tranh, thích ứng với thay đổi và tạo dựng nền tảng phát triển bền vững trong bối cảnh kinh tế số hiện nay.
Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực Trước tiên, quản trị nguồn nhân lực đảm bảo cung ứng lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế hiện đại, nơi mà nền kinh tế tri thức và công nghệ đóng vai trò chủ đạo, việc có một lực lượng lao động chất lượng cao là yêu cầu tất yếu. Quản trị nguồn nhân lực phải hướng đến việc tuyển dụng, đào tạo và phát triển nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu của tổ chức, đồng thời thích ứng với sự thay đổi của thị trường lao động. Điều này không chỉ giúp tăng cường hiệu suất lao động mà còn giảm thiểu lãng phí trong việc sử dụng nguồn lực, góp phần trực tiếp vào năng suất và hiệu quả kinh tế tổng thể.
Bên cạnh đó, mục tiêu nâng cao năng suất lao động luôn gắn liền với các hoạt động quản trị nguồn nhân lực. Hiệu suất làm việc của người lao động quyết định trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của tổ chức và nền kinh tế. Thông qua các chương trình đào tạo, đánh giá hiệu quả công việc và động viên nhân viên, quản trị nguồn nhân lực góp phần tối ưu hóa các yếu tố sản xuất, giảm chi phí, đồng thời gia tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm và dịch vụ.