Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN 1. Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về hải quan 1. Khái niệm, mục đích, dặc điểm quản lý Nhà nước về hải quan 1. Khái niệm quản lý Nhà nước về hải quan a.
Khái niệm hải quan Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý (2013), Hải quan là “công tác kiểm soát, đánh thuế hàng hóa xuất nhập cảnh”, hoặc là “cơ quan làm công tác kiểm soát, đánh thuế hàng hóa xuất nhập cảnh”. Theo Tổ chức Hải quan thế giới (2006) thì “Hải quan là cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm thi hành luật Hải quan và chịu trách nhiệm thu thuế và lệ phí xuất nhập khẩu, đồng thời cũng chịu trách nhiệm thi hành các luật lệ khác liên quan tới việc nhập khẩu, quá cảnh và xuất khẩu hàng hoá”. Hải quan là từ rút gọn của từ gốc “Hải ngoại thuế quan” với đối tượng quản lý là “hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan”. Nhà nước Việt Nam quản lý lĩnh vực hải quan thông qua việc ban hành pháp luật, chính sách và quy định Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
download by : skknchat@gmail.com 6 Hải quan là ngành thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quan trọng của chính phủ, tiến hành các biện pháp kiểm tra nhà nước về Hải quan tại các cửa khẩu, thu thuế xuất nhập khẩu, thuế gián thu và các lệ phí khác có liên quan tới hoạt động đối ngoại, chống buôn lậu qua biên giới, thực hiện thống kê hàng hoá thực xuất và thực nhập. Khái niệm quản lý Nhà nước về hải quan Theo tác giả Võ Kim Sơn (2010), Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động tổ chức, điều hành của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Theo nghĩa hẹp, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động cụ thể của con người theo pháp luật và bằng pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu đặt ra của QLNN dựa trên những điều kiện và quy luật khách quan của đời sống xã hội. Tham gia vào quá trình QLNN gồm chủ thể QLNN (các cơ quan, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước) và đối tượng QLNN (các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi tác động của QLNN) quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: quốc phòng, an ninh, kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ.
nhằm duy trì sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong đời sống xã hội; nội dung, hình thức, phương pháp và công cụ QLNN do pháp luật quy định. Đối với QLNN về Hải quan, hiểu theo nghĩa rộng là một mặt của công tác QLNN về kinh tế, có vị trí quan trọng trong thực thi chính sách kinh tế của Nhà nước, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu. Công tác QLNN về hải quan có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc phát triển xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển du lịch, giao thương quốc tế, khuyến khích sản xuất trong nước, đóng góp nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam hội download by : skknchat@gmail.com 7 nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, tạo ra nhiều cơ hội phát triển ngành Hải quan song đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức lớn như: sự gia tăng về quy mô, tính phức tạp của các hoạt động thương mại quốc tế, nguy cơ khủng bố, ô nhiễm môi trường và sức khoẻ cộng đồng; nghĩa vụ thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực hải quan mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc là thành viên; yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi tối đa về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam.
Hiểu theo nghĩa hẹp, QLNN về hải quan là quá trình tổ chức, điều hành hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam đối với các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, phương tiện vận tải theo các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu quốc tế; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Theo quy định hiện hành tại Luật Hải quan 2014 thì nội dung quản lý nhà nước về hải quan bao gồm: 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển Hải quan Việt Nam; 2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hải quan; 3.
Hướng dẫn, thực hiện và tuyên truyền pháp luật về hải quan; 4. Quy định về tổ chức và hoạt động của Hải quan; 5. Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ công chức hải quan; 6. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phương pháp quản lý hải quan hiện đại; 7.
Thống kê nhà nước về hải quan; 8. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan; 9. Hợp tác quốc tế về hải quan. (Quốc Hội, 2013) download by : skknchat@gmail.
Mục đích của quản lý Nhà nước về hải quan Mục đích của quản lý nhà nước lĩnh vực hải quan được xác định nhằm góp phần bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu quốc tế; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bên cạnh đó, QLNN về Hải quan còn là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực Nhà nước (ở đây là Hải quan) chủ yếu bằng pháp luật đến các đối tượng quản lý (là hàng hoá, phương tiện xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh) nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước. Là đơn vị QLNN cấp cơ sở, mục đích QLNN tại Cục hải quan Tỉnh được cụ thể hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa, thu hút đầu tư nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước; cho giao lưu và hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế; thu hút tinh hoa văn hoá nhân loại làm giàu bản sắc văn hoá Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của ngành Hải quan nói riêng và toàn xã hội nói chung. Đặc điểm quản lý Nhà nước về hải quan Cục hải quan là đơn vị QLNN về hải quan cấp cơ sở nên một số chức năng QLNN về hải quan bị thu hẹp, chủ yếu trọng tâm đối với các chức năng có tính chất thực thi, thực hiện công vụ.
Cụ thể như sau: Thứ nhất, về chủ thể quản lý của Cục hải quan Theo Luật Hải quan 2014 quy định tại Điều 100, cơ quan quản lý nhà nước về hải quan gồm: (1). Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hải quan. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hải quan. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý nhà nước về hải quan.
download by : skknchat@gmail. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về hải quan tại địa phương. (Quốc Hội, 2013) Hải quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất. Tổng cục trưởng Tổng Cục hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên.
Hiện nay, Tổng Cục hải quan là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức thực thi pháp luật về hải quan trong phạm vi cả nước. Tổng cục trưởng là người đứng đầu Tổng Cục hải quan, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Tổng Cục hải quan. Phó Tổng cục trưởng chịu trách nhiệm trước Tổng cục trưởng và trước pháp luật về lĩnh vực được phân công. Đối với Cục hải quan, chủ thể quản lý được quy định tại Quyết định số 1919/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 06/9/2016, cụ thể như sau (1).
Cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Cục hải quan) là tổ chức trực thuộc Tổng Cục hải quan, có chức năng giúp Tổng cục trưởng Tổng Cục hải quan quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức thực thi pháp luật về hải quan, các quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn hoạt động của Cục hải quan theo quy định của pháp luật. Cục hải quan có Cục trưởng và một số Phó Cục trưởng theo quy định. Cục trưởng Cục hải quan chịu trách nhiệm trước Tổng cục trưởng Tổng Cục hải quan và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Cục. Phó Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Cục trưởng và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công phụ trách.
download by : skknchat@gmail.