Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xây dựng 1. Khái quát về doanh nghiệp xây dựng 1. Khái niệm về doanh nghiệp xây dựng Theo luật doanh nghiệp 2005: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Theo tác giả Đồng Thị Thanh Phương (2012) đưa ra các khái niệm về doanh nghiệp như sau: - Quan điểm nhà tổ chức: doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích. - Quan điểm lợi nhuận: doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông qua đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm. - Quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. - Quan điểm lý thuyết hệ thống: doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động download by : skknchat@gmail.com 5 tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội.
Như vậy, theo khái niệm chung nhất: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, chủ yếu thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi sản phẩm, hàng hoá trên thị trường theo nguyên tắc tối đa lợi ích giữa các bên để đạt được mục đích của mình. Vậy, doanh nghiệp xây dựng được khái niệm như sau: “Doanh nghiệp xây dựng cũng là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân kinh doanh các sản phẩm đặc biệt (sản phẩm có giá trị lớn, thời gian sản xuất dài) trên thị trường xây dựng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận”. Đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng Thứ nhất: Doanh nghiệp xây dựng phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên: Hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Nên thời gian, công nghệ, phương thức sản xuất.
của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên của các công trình đang thực hiện. Yếu tố tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp này. Thứ hai: Nhiều lao động thuê ngoài, thuê theo thời vụ. Với đặc điểm các công trình xây dựng thường ở những nơi xa trụ sở của doanh nghiệp, nên để tiện cho quá trình thực hiện thi công xây dựng, các doanh nghiệp xây dựng thường tổ chức thuê lao động ngoài, lao động thời vụ.
Sau khi công trình kết thúc thì thời hạn hợp đồng với lao động cũng kết thúc. download by : skknchat@gmail.com 6 Thứ ba: Doanh nghiệp xây dựng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Lĩnh vực xây dựng thường là các công trình có quy mô đầu tư lớn. Sau khi hoàn thiện công trình chủ đầu tư mới quyết toán hết.
Do vậy, để đảm bảo thời gian đầu tư các doanh nghiệp cần lượng vốn lớn để có thể đối ứng và tiếp tục đầu tư cho nhiều công trình. Vai trò của các doanh nghiệp xây dựng đối với nền kinh tế Một là, tác động tích cực - Các doanh nghiệp xây dựng phát triển để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Ngày nay, với số lượng lao động dồi dào, trình độ tay nghề cao, trang thiết bị máy móc hiện đại, sử dụng các phương pháp thi công tiên tiến, áp dụng các thành tựu khoa học vào xây dựng các công trình. Xuất phát từ thực tế, do vậy hầu như các doanh nghiệp xây dựng hiện nay đủ sức đảm nhận thi công những công trình có quy mô lớn và kỹ thuật phức tạp trong và ngoài nước.
Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp này tương đối gay gắt dẫn tới có sự chuyên môn hoá theo ngành xây dựng. - Ngành xây dựng ở bất kỳ một quốc gia nào cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc nộp thuế cho ngân sách Nhà nước, thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách Nhà nước và ổn định kinh tế vĩ mô. - Vốn đầu tư cho ngành xây dựng thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng ngân sách của mỗi quốc gia, do đó việc tiết kiệm, quản lý tốt các khâu trong xây dựng có ý nghĩa quan trọng đối với ngân sách Nhà nước. - Nhà nước ta thường quan tâm tới ngành xây dựng, coi đây là một ngành công nghiệp đặc biệt, khi ngành xây dựng phát triển là tiền đề để các ngành công nghiệp khác phát triển theo.
Chính vì thế vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước cấp cho ngành xây dựng ngày càng tăng để xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật. download by : skknchat@gmail.com 7 - Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam hiện nay, với xu thế hội nhập và phát triển, nước ta đang thu hút một lượng vốn đầu tư rất lớn từ phía nước ngoài. Các dự án đầu tư đó ở nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế: Dự án giao thông, điện, nước, nông nghiệp, y tế, giáo dục… Tất cả các dự án này đều có sự tham gia của các doanh nghiệp xây dựng. Hai là, tác động tiêu cực - Sản phẩm xây dựng tuy là sản phẩm công nghiệp, nhưng nó có đặc thù riêng, đặc thù đó quyết định tới quá trình tổ chức quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
- Sản phẩm xây dựng mang tính chất đơn chiếc, đối với sản phẩm xây dựng thường được sản xuất theo đơn đặt hàng thông qua hợp đồng kinh tế giữa người mua và người bán đó là những công trình kiến trúc. Trong khi sản phẩm của những ngành khác thường sản xuất hàng loạt, trong điều kiện ổn đinh. Sản phẩm xây dựng được phân bố ở khắp mọi nơi tuỳ theo địa điểm yêu cầu của người mua do vậy dẫn tới các chi phí cũng khác nhau cho cùng một loại sản phẩm. - Nơi sản xuất sản phẩm xây dựng cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm: Các công trình xây dựng đều được sản xuất, thi công tại một địa điểm nơi đó đồng thời gắn liền với quá trình tiêu thụ và thực hiện giá trị sử dụng.
Địa điểm thi công xây dựng thường do chủ đầu tư quyết định để thoả mãn các giá trị sử dụng của sản phẩm. - Sản phẩm của các doanh nghiệp xây dựng chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường… nơi tiêu thụ. Sản phẩm của các doanh nghiệp xây dựng bao giờ cũng gắn với địa điểm của một địa phương nhất định. Do vậy, phải lựa chọn công trình phù hợp với điều kiện địa lý, khí hậu, phong tục tập quán, môi trường.
Đặc điểm này chi phối tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng như là khảo sát, thiết kế, thi công. download by : skknchat@gmail.com 8 - Sản phẩm của các doanh nghiệp xây dựng thường kéo dài thời gian sản xuất, yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật cao. Thời gian sử dụng sản phẩm xây dựng thường kéo dài, nhiều công trình kiến trúc có thể tới hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa. Xuất phát từ mục đích của công trình xây dựng không những chỉ phục vụ cho mục đích hiện tại mà còn phục vụ cho tương lai.
Do vậy, khi tiến hành sản xuất sản phẩm xây dựng chất lượng luôn được coi là hàng đầu. - Mặt khác, sản phẩm của các doanh nghiệp xây dựng cần phải có tính thẩm mỹ cao, bởi vì sản phẩm xây dựng là những ngôi nhà, khách sạn, sân bay… càng cần vẻ đẹp bề ngoài để gây sự chú ý, thu hút lòng người. Tính thẩm mỹ của các công trình còn là cơ sở quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, phong tục tập quán của một quốc gia. - Sản phẩm của các doanh nghiệp xây dựng thường có giá trị lớn, tốn nhiều chi phí.
Chi phí đầu tư cho một công trình thường dải ra trong một thời gian dài, có thể do nhiều nguồn vốn hình thành. Sản phẩm tuy đơn chiếc nhưng do nhiều hạng mục công trình hợp thành do vậy có thể do nhiều bộ phận tiến hành, do đó công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng khác biệt với các ngành khác. Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xây dựng 1. Khái niệm QLNN đối với các doanh nghiệp xây dựng Quản lý là một chức năng bắt nguồn từ tính xã hội của lao động trong điều kiện phát triển kinh tế quản lý được xem là thước đo của hầu hết các hoạt động xã hội.
QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước đối với hành vi hoạt động của con người theo pháp luật. Đồng thời, các cơ quan QLNN nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. download by : skknchat@gmail.com 9 Theo giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”. QLNN đối với các doanh nghiệp là một bộ phận, đồng thời là nội dung cơ bản của QLNN về kinh tế.
Nhà nước có chức năng và nhiệm vụ quản lý đối với tất cả doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, nhưng không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nói chung, doanh nghiệp xây dựng nói riêng hoàn toàn có quyền tự chủ khi tiến hành hoạt động kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm.