Luận văn: Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế tại TX Gò Công

Luận văn thạc sỹ phân tích thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế tại TX Gò Công, Tiền Giang, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2019

111
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Bức tranh quản lý kinh tế tại TX Gò Công giai đoạn 2014 2018

Giai đoạn 2014-2018 ghi nhận những nỗ lực đáng kể trong công tác quản lý nhà nước về kinh tế tại Thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Tổng giá trị sản xuất (GTSX) tính theo giá so sánh năm 2010 đã tăng 38,1% sau 5 năm, cho thấy quy mô nền kinh tế được mở rộng. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại, từ 11,3% năm 2014 xuống còn 5,5% vào năm 2018, thấp hơn mục tiêu đề ra và mặt bằng chung của tỉnh. Sự tăng trưởng này chủ yếu được thúc đẩy bởi khu vực kinh tế ngoài nhà nước, trong khi đóng góp từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn rất hạn chế. Thu nhập bình quân đầu người tăng song hành cùng GTSX, phản ánh sự phụ thuộc trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế. Bất kỳ sự suy giảm nào về tốc độ tăng trưởng đều có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người dân. Công tác quản lý ngân sách địa phương được thực hiện chặt chẽ, tổng thu ngân sách năm 2018 đạt khoảng 530 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2014. Việc cân đối thu chi được đảm bảo, tạo nguồn lực cho chi thường xuyên và đầu tư phát triển. Các chính sách từ UBND thị xã Gò Công đã tập trung vào việc cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp và tăng cường thu ngân sách, góp phần vào những thành tựu ban đầu trong việc tái cơ cấu nền kinh tế. Đây là nền tảng quan trọng để phân tích những thách thức còn tồn tại và đề ra giải pháp phát triển cho giai đoạn tiếp theo, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

1.1. Thực trạng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Gò Công diễn ra tích cực, theo đúng định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 45,6% (năm 2010) xuống còn 32,7% (năm 2018) trong tổng GTSX. Ngược lại, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ tăng lên đáng kể, chiếm tổng cộng hơn 67% vào năm 2018. Kết quả này giúp TX Gò Công đạt tiêu chuẩn đô thị loại III, với tỷ trọng ngành phi nông nghiệp vượt ngưỡng 65%. Sự tăng trưởng của ngành xây dựng (tăng 43,2% giai đoạn 2014-2018) phản ánh nỗ lực chỉnh trang đô thị và phát triển hạ tầng. Mặc dù cơ cấu kinh tế thị xã Gò Công đã có sự thay đổi tích cực, tốc độ tăng trưởng chung vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, đòi hỏi những chính sách đột phá hơn nữa.

1.2. Phân tích hiệu quả quản lý thu chi ngân sách địa phương

Công tác quản lý ngân sách địa phương cho thấy sự chủ động và hiệu quả. Tổng thu ngân sách tăng đều qua các năm, đặc biệt thu nội địa có sự cải thiện rõ rệt. Về chi ngân sách, chính quyền ưu tiên phân bổ cho các lĩnh vực thiết yếu. Chi thường xuyên chiếm khoảng 69% tổng chi, trong đó chi cho giáo dục chiếm tỷ trọng cao nhất (42,9%). Chi đầu tư phát triển, dù chỉ chiếm 13,2% tổng chi, nhưng được tập trung vào các công trình hạ tầng trọng điểm. Luận văn của Nguyễn Thế Hiển (2019) chỉ ra rằng, việc bố trí kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản được giám sát chặt chẽ, tuân thủ quy định của nhà nước. Cân đối ngân sách luôn duy trì trạng thái thặng dư, dù không lớn, nhưng đã đảm bảo được các nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn vốn cho đầu tư, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế Gò Công.

II. Phân tích thách thức trong công tác quản lý kinh tế tại Gò Công

Mặc dù đạt được một số thành tựu, công tác quản lý kinh tế tại TX Gò Công vẫn đối mặt với nhiều thách thức cố hữu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại là một dấu hiệu đáng lo ngại, cho thấy các động lực tăng trưởng hiện tại chưa đủ mạnh và bền vững. Một trong những nguyên nhân chính là chất lượng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chưa cao, chưa bám sát thực tiễn và thiếu tầm nhìn dài hạn. Luận văn gốc chỉ rõ "quy hoạch tổng thể... còn chậm, chất lượng quy hoạch chưa cao, chưa sát với mục tiêu và định hướng phát triển". Điều này dẫn đến việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, nhiều công trình chậm tiến độ, công tác quản lý sau đầu tư yếu kém. Môi trường kinh doanh tuy đã cải thiện nhưng vẫn chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư lớn, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Gò Công chiếm đa số nhưng quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp. Thêm vào đó, chất lượng nguồn nhân lực TX Gò Công chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Việc giải quyết các bài toán này đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy và hành động của các cấp chính quyền địa phương.

2.1. Hạn chế trong quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng

Những tiềm năng và thách thức kinh tế Gò Công bộc lộ rõ trong công tác quy hoạch. Việc đầu tư hạ tầng còn dàn trải, thiếu cân đối giữa các phường, xã. Nhiều dự án trọng điểm triển khai chậm, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và đời sống người dân. Công tác quản lý đô thị, quản lý xây dựng còn bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển. Việc thiếu một chiến lược phát triển tổng thể, toàn diện và dài hạn khiến các nguồn lực chưa được huy động và sử dụng một cách tối ưu. Đây là "nút thắt cổ chai" cần được tháo gỡ để khai thông tiềm năng, tạo động lực cho một giai đoạn phát triển mới.

2.2. Rào cản trong thu hút đầu tư và chất lượng nguồn nhân lực

Khả năng thu hút đầu tư tại Gò Công còn rất hạn chế. Tính đến năm 2018, thị xã chỉ có một doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài hoạt động ổn định. Nguyên nhân đến từ các thủ tục hành chính còn phức tạp và môi trường cạnh tranh chưa thực sự bình đẳng. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực TX Gò Công dù dồi dào nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn thấp. Sự mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động tạo ra rào cản lớn cho việc tiếp nhận công nghệ mới và phát triển các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao. Đây là thách thức kép cần có giải pháp đồng bộ để cải thiện.

III. Phương pháp hoàn thiện quy hoạch để quản lý kinh tế Gò Công

Để nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế tại TX Gò Công, giải pháp trọng tâm là phải đổi mới và hoàn thiện công tác quy hoạch. Quy hoạch phải đi trước một bước, đóng vai trò định hướng, dẫn dắt sự phát triển. Cần xây dựng một quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tổng thể, tích hợp và có tầm nhìn đến năm 2030. Quy hoạch này phải dựa trên phân tích khoa học về lợi thế so sánh, tiềm năng và các thách thức, đặc biệt là tác động của biến đổi khí hậu. Việc lập kế hoạch cần có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư để đảm bảo tính thực tiễn và khả thi. Công tác quản lý quy hoạch sau khi phê duyệt cần được siết chặt, đảm bảo các dự án đầu tư tuân thủ đúng định hướng, tránh tình trạng điều chỉnh tùy tiện. UBND thị xã Gò Công cần phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư Tiền Giang để đồng bộ hóa quy hoạch cấp thị xã với quy hoạch cấp tỉnh. Đồng thời, cần đẩy mạnh cải cách hành chính kinh tế, công khai, minh bạch hóa thông tin quy hoạch để người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, giám sát và tham gia.

3.1. Nâng cao chất lượng lập thẩm định và quản lý kế hoạch

Chất lượng của các bản kế hoạch và quy hoạch là yếu tố quyết định. Cần áp dụng các phương pháp dự báo tiên tiến, đánh giá tác động đa chiều (kinh tế, xã hội, môi trường) khi xây dựng kế hoạch. Tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quy hoạch, đồng thời thiết lập cơ chế phản biện độc lập để nâng cao chất lượng thẩm định. Các chính sách kinh tế địa phương phải được lồng ghép một cách nhất quán vào quy hoạch, tạo thành một khung pháp lý vững chắc cho các hoạt động đầu tư và phát triển trên địa bàn. Việc quản lý phải được số hóa để tăng tính minh bạch và hiệu quả.

3.2. Định hướng phát triển công nghiệp dịch vụ Gò Công

Quy hoạch cần xác định rõ các ngành kinh tế mũi nhọn để tập trung nguồn lực. Đối với Gò Công, cần ưu tiên phát triển công nghiệp - dịch vụ Gò Công, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông thủy sản, dịch vụ hậu cần cảng biển và du lịch sinh thái. Cần quy hoạch các cụm công nghiệp tập trung với hạ tầng đồng bộ để thu hút nhà đầu tư. Song song đó, phải phát triển các trung tâm thương mại, dịch vụ hiện đại, kết nối với các tour du lịch để khai thác lợi thế văn hóa - lịch sử của vùng đất Gò Công. Quy hoạch không gian đô thị cần gắn liền với phát triển kinh tế, tạo ra các khu vực chức năng hợp lý, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Gò Công.

IV. Bí quyết thu hút đầu tư và phát triển nguồn nhân lực tại Gò Công

Bên cạnh quy hoạch, hai yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển kinh tế Gò Công là vốn đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng cao. Để giải quyết bài toán này, cần một chiến lược đồng bộ và quyết liệt. Về thu hút đầu tư tại Gò Công, không chỉ dừng lại ở các chính sách ưu đãi chung mà cần xây dựng một môi trường kinh doanh thực sự thông thoáng, minh bạch và cạnh tranh. Trọng tâm là đẩy mạnh cải cách hành chính kinh tế, đơn giản hóa các thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép, thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiệu quả. Chính quyền địa phương cần thể hiện vai trò kiến tạo, chủ động tiếp cận, đối thoại và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Về nguồn nhân lực, cần có một chiến lược dài hạn, bắt đầu từ việc đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo nghề. Cần xây dựng các chương trình đào tạo gắn liền với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và định hướng phát triển của thị xã, đặc biệt trong các lĩnh vực như nông nghiệp công nghệ cao Tiền Giang và công nghiệp chế biến. Các chính sách thu hút nhân tài, hỗ trợ khởi nghiệp cần được triển khai mạnh mẽ để giữ chân và thu hút lao động có kỹ năng.

4.1. Cải thiện môi trường kinh doanh và chính sách đầu tư

Để tăng sức hấp dẫn, Gò Công cần xây dựng hình ảnh một điểm đến đầu tư an toàn và hiệu quả. Điều này đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ từ lãnh đạo địa phương trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư. Cần tăng cường tính minh bạch trong tiếp cận đất đai, thông tin quy hoạch. Xây dựng các kênh đối thoại thường xuyên giữa UBND thị xã Gò Công và cộng đồng doanh nghiệp để kịp thời giải quyết các vướng mắc. Bên cạnh đó, cần chủ động xúc tiến đầu tư có mục tiêu, tập trung vào các nhà đầu tư chiến lược có công nghệ cao và thân thiện với môi trường, thay vì thu hút đầu tư bằng mọi giá.

4.2. Xây dựng chiến lược đào tạo và thu hút nhân tài

Phát triển nguồn nhân lực TX Gò Công phải là ưu tiên hàng đầu. Cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh và các doanh nghiệp tại thị xã để xây dựng chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo thực hành. Thị xã cần ban hành các chính sách ưu đãi cụ thể (về nhà ở, thu nhập, môi trường làm việc) để thu hút các chuyên gia, kỹ sư, lao động tay nghề cao về làm việc. Đồng thời, cần có các chương trình hỗ trợ, vườn ươm doanh nghiệp để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, tạo ra một thế hệ doanh nhân mới cho địa phương.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT QLNN VỀ KINH TẾ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP QUẬN HUYỆN 1. Nhà Nước và QLNN về kinh tế 1. Khái niệm quản lý Nguồn gốc hình thành khái niệm quản lý chính quyền từ các hoạt động của con người, là hoạt động khách quan phát sinh từ nhu cầu liên kết lại với nhau trong quá trình lao động và họ nhận ra sự cần thiết phải liên kết, phân phối lao động bởi mọi hoạt động đều cần có một tổ chức thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh tiến đến mục tiêu nhất định. Qua nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau của nhiều ngành nghề, lĩnh vực mà khái niệm quản lý được định nghĩa khác nhau như sau: Quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình, duy trì và phát triển đan xen lại với nhau một cách chặt chẽ, nhằm đảm bảo cho hoạt động của tổ chức vừa mang tính ổn định, vừa đảm bảo cho sự phát triển đi lên.

Quản lý trong góc độ kinh tế, quản lý là hoàn thành công việc thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất (Frederick Winslow Taylor, 1911) Quản lý còn được hiểu là một tiến trình bao gồm xây dựng kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và quản lý các hoạt động cá nhân, bộ phận, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra (Henri Faylol, 1949). Qua những phát biểu trên thì quan niệm quản lý có những điểm chung là hướng đến việc đạt được mục tiêu nhất định, có quá trình phân công hướng dẫn, là một hoạt động gián tiếp trong quá trình lao động sản xuất, đồng thời là sự tác động của chủ thể đến đối tượng cần quản lý. Qua đó, quản lý có thể được tạm hiểu là sự tác động có tổ chức theo định hướng của chủ thể lên đối tượng cần quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra. Khái niệm về quản lý Nhà Nước Trong cuốn Lược khảo lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa (1994, 78) cho rằng Nhà Nước ra đời ở một giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội trên cơ sở xuất hiện chế độ tư hữu và gắn liền với nó là sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng, các luận chứng về tính chất giai cấp và tính lịch sử của Nhà Nước, làm sáng tỏ chức 12 năng giai cấp cơ bản của Nhà Nước.

Và trong cuốn C.Mác và Ăng ghen, Tuyển tập: tập 6 (1984, 260-261) cũng cho rằng từ nhu cầu phải kiềm chế sự đối lập của các giai cấp, làm cho cuộc đấu tranh của những giai cấp có quyền lợi về kinh tế mâu thuẫn nhau, đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội. và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng trật tự.Mác và Ăng ghen, Tuyển tập: tập 6 (1984, 413) thì Friedrich Engels có nhấn mạnh “Nhà Nước, nói chung chỉ là sự phản ánh dưới hình thức tập trung những nhu cầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất”. Như vậy, Nhà Nước là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng chính trị pháp lý, là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị có phạm vi hoạt động cụ thể và có sức mạnh toàn năng nhất tại khu vực, lãnh thổ và quốc gia đó. Nhà Nước còn được hiểu là một bộ máy quyền lực gồm hai yếu tố là quản lý và cưỡng chế.

Mỗi bộ máy gồm nhiều bộ phận hợp thành và hoạt động theo quy tắt chung thống nhất, tạo thành một cơ chế đồng bộ nhằm thực thi chức năng và nhiệm vụ của Nhà Nước. Để thực hiện nhiệm vụ của mình thì khái niệm QLNN ra đời với đầy đủ các vai trò và chức năng của Nhà Nước nhằm duy trì xã hội ổn định và phát triển. Nhà Nước thiết lập một bộ máy quyền lực với các công cụ pháp luật có tính bắt buộc và không bắt buộc để điều hành, sử dụng các nguồn lực của mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. QLNN còn có thể được hiểu như một dạng quản lý xã hội mà cơ quan Nhà Nước trong bộ máy sử dụng pháp luật và các chính sách để điều chỉnh các hành vi của cá thể, tập thể trên mọi mặt của KT-XH nhằm duy trì ổn định của xã hội.

Nhà Nước có vai trò chủ đạo nhằm đảm bảo nền kinh tế ổn định, phát triển bền vững và công bằng xã hội. Vai trò của Nhà Nước được thể hiện qua các mục tiêu đề ra trong việc quản lý kinh tế vĩ mô. Ở Việt Nam, quá trình QLNN còn có những đặc điểm như sau: (1) QLNN mang tính quyền lực đặc biệt như tính mệnh lệnh đơn phương và quản lý bằng hệ thống chặt chẽ, trong đó không ai được lạm dụng chức quyền, mọi người bình đẳng trước pháp luật, làm theo quy định của pháp luật và chỉ có Nhà Nước có quyền ban bố pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật theo nguyên tắc pháp chế; (2) QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, tổ chức và bộ máy quản lý được xây dựng thành hệ thống và qua đó Nhà Nước điều chỉnh các mối quan hệ bằng pháp luật; (3) QLNN có mục tiêu và 13 chiến lược; (4) QLNN có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt; (5) QLNN không có sự cách biệt tuyệt đối giữa chủ thể và khách thể quản lý; (6) QLNN bảo đảm tính ổn định liên tục trong tổ chức và trong hoạt động. Khái niệm quản lý Nhà Nước về kinh tế Theo các học thuyết cổ điển về Nhà Nước có những quan điểm như sau: Theo chủ nghĩa trọng thương Mercantilism (tại Anh, Pháp vào thế kỷ XVI, XVII và XVIII) cho rằng phải có sự can thiệp của Nhà Nước đối với các hoạt động kinh tế; bên cạnh đó coi sáng kiến cá nhân là quan trọng nhưng phải có sự hướng dẫn, quản lý và điều tiết của Nhà Nước.

Theo Chủ nghĩa trọng nông (tại Pháp thế kỷ XVIII) cho rằng sự tự do trong kinh tế là điều kiện để phát triển. Trong tự nhiên đã có sự sắp xếp một cách hoàn hảo, con người cần phải tôn trọng nó. Phần quan trọng của học thuyết này là cho rằng Nhà Nước không nên can thiệp vào quá trình kinh tế vì sự can thiệp quá sâu vào nền kinh tế có thể làm sai lệch trật tự tự nhiên. Nhà Nước chỉ cần đặt ra các điều luật cần thiết phù hợp với các quy luật tự nhiên (Henry William Spiegel, 1983).

Theo học thuyết kinh tế của Adam Smith (tại Anh thế kỷ XVIII) ủng hộ mạnh mẽ tư tưởng tự do kinh tế, đề cao vai trò tự điều tiết thông minh, hợp lý của xã hội trong cơ chế thị trường thông qua một bàn tay vô hình và không nên có sự can thiệp kinh tế của Nhà Nước. Nhà Nước không nên can thiệp vào thị trường kinh tế. Adam Smith cho rằng Nhà Nước chỉ nên đảm nhiệm vai trò bảo đảm quyền tự do cơ bản của toàn dân như về an ninh, công bằng, kiến tạo, nâng cao dân trí thông qua phát triển giáo dục và duy trì một số công trình công cộng mà tư nhân không thực hiện được vì doanh thu không bù được chi phí bỏ ra (Adam Smith, 1776). Theo học thuyết kinh tế của trường phái Keynes (những năm 30 của thế kỷ XX) với quan điểm cơ bản là bác bỏ cách lý giải cổ điển về quá trình tự điều tiết của nền kinh tế dựa trên cơ chế thị trường linh hoạt.

Học thuyết cho rằng cơ chế thị trường không bảo đảm tận dụng tối ưu các nguồn lực trong xã hội và từ đó chủ trương cần có sự can thiệp sâu rộng của Nhà Nước để điều chỉnh sự vận động của nền kinh tế, nhằm khắc phục suy thoái, hạn chế thất nghiệp, tái lập các công bằng xã hội (John M. Keynes,1936) 14 Theo học thuyết kinh tế của Samuelson (những năm 70 của thế kỷ XX) với quan điểm kết hợp trường phái kinh tế cổ điển và trường phái Keynes hình thành lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp. Nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế kết hợp của kinh tế tư nhân cùng với kinh tế Nhà Nước và nó được điều hành bởi cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà Nước. Theo học thuyết, muốn phát triển kinh tế có hiệu quả là phải lựa chọn cả hai bàn tay.

Cơ chế thị trường (bàn tay vô hình) và sự điều tiết của chính phủ (bàn tay hữu hình) (Samuelson, 2011). Ngoài ra, còn các khái niệ m QLNN về kinh tế tại Việt Nam hiện nay như: Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu (2008) cho rằng QLNN về kinh tế là sự quản lý của Nhà Nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực thông qua các cơ chế quản lý nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Phan Huy Đường (2017) cho rằng QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức, có mục đích của Nhà Nước lên các hoạt động kinh tế (đối tượng và khách thể hoạt động kinh tế) để sử dụng có hiệu quả tiềm năng, có nguồn lực, có cơ hội nhằm đạt được mục đích trước mắt và lâu dài của nền KT-XH. QLNN về kinh tế là sự quản lý của Nhà Nước đối với các hoạt động về kinh tế thông qua định hướng cho nền kinh tế phát triển thông qua việc xây dựng đường lối, chiến lược phát triển, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách để quản lý.

Tương tự như khái niệm QLNN, theo nghĩa rộng, QLNN về kinh tế được thực hiện bởi các cơ quan QLNN (cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp). Theo nghĩa hẹp, QLNN về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà Nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp. Tính chất, đặc điểm của QLNN về kinh tế vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật và là một nghề nghiệp, là vì có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ