Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các KCN 1. KCN, đặc điểm, vai trò của KCN 1. Khái niệm về KCN KCN đã hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một định nghĩa được thừa nhận chung về KCN. Các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về KCN. Ở nước ta, KCN được đề cập đến từ khi miền Bắc xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên, miền Nam khi Mỹ ngụy xây dựng KCN Biên Hòa. Nhưng chỉ đến khi có luật đầu tư nước ngoài (1986), khái niệm về KCN mới được chính thức nêu ra tại khoản 14 và 15, điều 2.
Theo văn bản này, “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp”. Trong quy chế KCN, KCX, khu công nghiệp cao (KCNC) ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, khái niệm KCN được nêu tại khoản 2 và 3, điều 2 như sau: KCN là khu tập trung các DN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chỉnh phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập, trong KCN có thể có DN chế xuất. Theo Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 thì KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các DV cho sản xuất CN, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 và Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định download by : skknchat@gmail.com 6 về KCN, KCX và khu kinh tế quy định về KCN, KCX và KKT như sau “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về KCN, nhưng khái quát lại, có thể hiểu KCN theo 2 cách: Thứ nhất, KCN là một lãnh thổ xác định được xây dựng cơ sở hạ tầng và pháp lý phù hợp với sản xuất CN. Trong KCN có thể xây dựng thêm các DN dịch vụ, nhất là dịch vụ sản xuất CN, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí phục vụ người lao động, khu thương mại, văn phòng, nhà ở cho công nhân….Về thực chất, đây là khu hành chính kinh tế đặc biệt như KCN ở các nước Tây Âu, khu kinh tế mở Chu Lai, Dung Quất ở Việt Nam. Thứ 2, KCN là lãnh thổ có giới hạn nhất định, tập trung các DN sản xuất CN, DN dịch vụ sản xuất CN, không có dân cư sinh sống. Mô hình này được xây dựng ở một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia… Dù theo hình thức nào, KCN đều là một lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định, có những điều kiện tương xứng với phát triển CN về tự nhiên, cơ sở hạ tầng, QLNN, tập trung các DN sản xuất CN, các DN dịch vụ có liên quan đến hoạt động CN.
Đặc điểm của KCN + Về đặc điểm tự nhiên: KCN thường được xây dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi như gần các đường giao thông, thuận tiện trong giao lưu với các trung tâm kinh tế lớn, gần cảng biển, sân bay. Ngoài ra, các KCN còn đòi hỏi phải có diện tích đất khá lớn, tập trung tại một địa điểm, địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp cho xây dựng các công trình CN, gần nguồn nước, có cơ sở hạ tầng thích hợp. Do các đặc điểm này, nên quỹ đất xây dựng KCN Việt Nam thường lấn chiếm quỹ đất nông nghiệp và quỹ đất đô thị. Khi các KCN được xây download by : skknchat@gmail.com 7 dựng nhiều sẽ gây sức ép, thậm chí xung đột với nhu cầu đất của dân cư.
Chính vì vậy, xây dựng các KCN phải theo quy hoạch cân đối, hài hòa hợp lý các khu đất giành cho sinh hoạt, cho nông, lâm nghiệp, thủy sản và cho các KCN tập trung. + Về đặc điểm kinh tế- kỹ thuật: KCN thường tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất ra các sản phẩm CN khác nhau, đồng thời cũng sử dụng lượng lớn nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng và thải ra lượng chất thải khổng lồ. Do tính tập trung sản xuất CN ở mật độ cao như vậy nên các vấn đề kinh tế- kỹ thuật của KCN trở nên rất khác biệt. + Về thành lập: KCN không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt.
Để phát triển các KCN, nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các KCN, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng, thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách toàn diện, đồng bộ. + Về đầu tư cho sản xuất: Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong KCN, có khu vực hoặc DN chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu (được gọi là KCX, DN chế xuất). Phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê duyệt và dự án đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, trong phạm vi KCN có thể thành lập khu vực riêng bao gồm: Các DN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và các dịch vụ thu ngoại tệ hoặc cũng có thể chỉ thành lập DN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (DN chế xuất). Tóm lại, một mặt, KCN là một thực thể độc lập cả về lãnh thổ lẫn các điều kiện sản xuất kinh doanh gắn với cơ bản của nó là sản xuất CN tập trung ở mật độ cao.
Mặt khác, KCN không tồn tại độc lập mà nó có mối quan hệ chặt chẽ về mọi mặt với các phần lãnh thổ khác về đầu vào, đầu ra và ảnh download by : skknchat@gmail.com 8 hưởng ngoại sinh. Vấn đề là làm sao để cả trong, ngoài KCN các quá trình kinh tế, xã hội, tự nhiên đều diễn ra tốt đẹp. Giải quyết yêu cầu đó là nhiệm vụ của cơ quan QLNN. Vai trò của các KCN Các KCN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là các nước đang phát triển thì việc phát triển các KCN đã tạo ra được cơ hội phát triển CN và thực hiện CNH rút ngắn bởi có thể học tập được những thành tựu mới nhất về KH-KT, về tổ chức và quản lý DN, đồng thời tranh thủ được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài để phát triển.
Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nền kinh tế KCN với đặc điểm là nơi được đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại và thu hút các nhà đầu tư cùng đầu tư trên một vùng không gian lãnh thổ do vậy đó là nơi tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài nước. Với quy chế quản lý thống nhất và các chính sách ưu đãi, các KCN đã tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài; hơn nữa việc phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lược kinh doanh của các tập đoàn, công ty đa quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tranh thủ ưu đãi thuế quan từ phía nước chủ nhà, tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận và khai thác thị trường mới ở các nước đang phát triển. Do vậy, KCN giúp cho việc tăng cường huy động vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho phát triển KT-XH, là đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và là giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là một trong những nhân tố quan trọng giúp quốc gia thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Mặt khác sự hoạt động của đồng vốn có nguồn gốc từ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã tác động tích cực thúc đẩy sự lưu thông và hoạt động của đồng vốn trong nước. download by : skknchat@gmail.com 9 - Việc khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước đầu tư vào KCN bằng nhiều hình thức, đa dạng sẽ thu hút được một nguồn vốn lớn trong nước tham gia đầu tư vào các KCN. Đây là nguồn vốn tiềm tàng rất lớn trong xã hội chưa được khai thác và sử dụng hữu ích. Nguồn vốn đầu tư của các DN trong nước tham gia xây dựng hạ tầng KCN và đầu tư sản xuất trong KCN sẽ tạo sự tin tưởng và là động lực thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào KCN.
Thực tế trong thời gian vừa qua, các KCN đã thu hút được khá nhiều nguồn vốn cho mục tiêu đầu tư phát triển KT-XH của quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng. Tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực Xây dựng và phát triển KCN thu hút một lượng lớn lao động vào làm việc tại các KCN và đã có tác động tích cực tới việc xóa đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong cộng đồng dân cư đồng thời góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên. Phát triển KCN góp phần quan trọng trong việc phân công lại lực lượng lao động trong xã hội, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường lao động có trình độ và hàm lượng chất xám cao. Quan hệ cung cầu lao động diễn ra ở thị trường này diễn ra gay gắt chính là động lực thúc đẩy người sử dụng lao động, người lao động phải rèn luyện và không ngừng học tập, nâng cao trình độ tay nghề.
Như vậy, KCN đóng góp rất lớn vào việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế và hình thành đội ngũ lao động của nền CN hiện đại thông qua việc xây dựng các cơ sở đào tạo nghề, liên kết gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm giữa các DN KCN với nhà trường.