Luận văn Thạc sĩ: Quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

Chuyên khảo phân tích Luận văn quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân i, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân

1.1. Các khái niệm công cụ

1.2. Lí luận về hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân

1.3. Lí luận về quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân

1.4. Lí luận về các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân

2. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân I

2.1. Khái quát về Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

2.2. Khái quát khảo sát thực trạng

2.3. Thực trạng hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

2.6. Điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân tác động tới công tác quản lý hoạt động tự học của học viên

3. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý

3.2. Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.4. Khảo nghiệm các biện pháp quản lý

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Toàn cảnh luận văn quản lý hoạt động tự học của học viên CSND I

Luận văn “Quản lý hoạt động tự học của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I” là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, phân tích toàn diện các yếu tố lý luận và thực tiễn liên quan đến quá trình tự học trong môi trường đặc thù của lực lượng vũ trang. Nghiên cứu này không chỉ hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi như quản lý giáo dục, hoạt động học tập, và tự học, mà còn đặt nền tảng cho việc xây dựng các biện pháp quản lý hiệu quả. Mục tiêu chính của luận văn là đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc tối ưu hóa công tác quản lý hoạt động tự học, đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo tín chỉ và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành Công an. Công trình nhấn mạnh rằng, năng lực tự học là yếu tố quyết định đến chất lượng đầu ra của học viên, đặc biệt đối với học viên các trường Công an Nhân dân.

1.1. Cơ sở lý luận về năng lực tự học và quản lý giáo dục

Luận văn đã làm rõ các khái niệm nền tảng, trong đó năng lực tự học được xác định là khả năng cá nhân chủ động, độc lập chiếm lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng. Đây không chỉ là một hoạt động đơn lẻ mà là một quá trình có cấu trúc, bao gồm việc xác định mục tiêu, lập kế hoạch, triển khai và tự đánh giá. Trong bối cảnh đổi mới phương pháp dạy và học, hoạt động này trở thành trung tâm của quá trình đào tạo. Về mặt quản lý giáo dục, luận văn tiếp cận theo quan điểm hệ thống, coi việc quản lý hoạt động tự học là một chuỗi các tác động có mục đích của chủ thể quản lý (Ban Giám hiệu, giảng viên) đến khách thể (học viên). Mục đích là tạo ra một môi trường học tập thuận lợi, định hướng và thúc đẩy ý thức tự học của sinh viên, từ đó biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Các chức năng quản lý cơ bản như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra được phân tích kỹ lưỡng trong bối cảnh đặc thù của Trường Cao đẳng CSND I (T08).

1.2. Vai trò của hoạt động tự nghiên cứu trong đào tạo tín chỉ

Trong hệ thống chương trình đào tạo tín chỉ, vai trò của việc tự nghiên cứu được đề cao hơn bao giờ hết. Luận văn khẳng định, tự học là phương thức cơ bản để học viên có thể đáp ứng yêu cầu của hình thức đào tạo này. Thay vì chỉ tiếp thu kiến thức một chiều trên lớp, học viên phải dành phần lớn thời gian cho việc tự tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị bài và thực hiện các nhiệm vụ học tập độc lập. Vai trò của giảng viên cũng thay đổi, từ người truyền thụ kiến thức sang người định hướng, cố vấn và tổ chức quá trình học tập. Hoạt động tự học giúp học viên củng cố kiến thức đã học, mở rộng hiểu biết và quan trọng hơn là rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề. Đây là những phẩm chất cốt lõi cần có của một người sĩ quan Công an nhân dân trong tương lai. Do đó, việc quản lý hiệu quả hoạt động này là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ.

II. Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên Thách thức

Chương 2 của luận văn tập trung khảo sát và đánh giá sâu sắc về thực trạng hoạt động tự học tại Trường Cao đẳng CSND I. Dựa trên các phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn 100 học viên cùng 100 cán bộ quản lý và giáo viên, nghiên cứu đã phác họa một bức tranh chân thực với nhiều điểm sáng nhưng cũng không ít thách thức. Các số liệu cho thấy nhận thức của học viên về tầm quan trọng của tự học đã được nâng cao. Tuy nhiên, động cơ và phương pháp thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế. Việc quản lý từ phía nhà trường, dù đã có nhiều nỗ lực, vẫn còn những bất cập cần được khắc phục. Phân tích thực trạng là cơ sở quan trọng để xác định nguyên nhân của các điểm yếu, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động tự học phù hợp và mang tính đột phá, góp phần cải thiện thực chất chất lượng dạy và học.

2.1. Phân tích nhận thức và ý thức tự học của sinh viên

Kết quả khảo sát trong luận văn (Bảng 2.3) cho thấy một thực tế đáng chú ý: 100% học viên đều đồng ý rằng tự học giúp đạt kết quả cao trong các kỳ thi. Tuy nhiên, các vai trò lâu dài như “rèn luyện hành vi, thói quen học tập liên tục” (45%) hay “vận dụng kiến thức vào thực tế” (40%) lại chưa được đánh giá cao. Điều này phản ánh ý thức tự học của sinh viên còn mang tính đối phó, ngắn hạn. Về động cơ (Bảng 2.4), mục đích “đạt điểm cao” (72% rất đồng ý) và “làm vui lòng thầy cô, cha mẹ” (64% rất đồng ý) chiếm ưu thế so với mục đích “giúp ích cho công việc sau này” (33% rất đồng ý). Thực trạng này đặt ra thách thức lớn trong việc xây dựng động cơ học tập bền vững và đúng đắn cho học viên, một yếu tố nền tảng để phát triển kỹ năng tự học của học viên một cách tự giác và hiệu quả.

2.2. Hạn chế trong việc lập kế hoạch và quản lý thời gian học tập

Một trong những phát hiện quan trọng của luận văn là sự yếu kém trong kỹ năng lập kế hoạch dài hạn. Theo Bảng 2.5, có đến 90% học viên lập kế hoạch tự học theo ngày, nhưng chỉ có 38% lập kế hoạch cho học kỳ và 25% cho cả năm học. Việc thiếu một kế hoạch tổng thể khiến hoạt động tự học trở nên manh mún, thiếu định hướng và không bám sát mục tiêu của chương trình đào tạo tín chỉ. Kỹ năng quản lý thời gian học tập cũng là một điểm yếu. Dù có quy định về giờ tự học tập trung, nhiều học viên vẫn sử dụng thời gian này kém hiệu quả, chỉ thực sự tập trung khi gần đến kỳ thi (87% theo Bảng 2.6). Điều này cho thấy công tác quản lý, kiểm tra, đôn đốc của nhà trường cần được tăng cường để đảm bảo giờ tự học thực sự mang lại giá trị, thay vì chỉ mang tính hình thức.

III. Giải pháp quản lý hoạt động tự học Đổi mới phương pháp dạy

Từ những phân tích về thực trạng, luận văn đã đề xuất một hệ thống các biện pháp toàn diện, trong đó nhóm giải pháp về đổi mới phương pháp dạy và học được xem là cốt lõi. Cách tiếp cận này khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của học viên. Một phương pháp giảng dạy tích cực sẽ là chất xúc tác mạnh mẽ nhất, khơi dậy và định hướng cho hoạt động tự học. Việc chuyển đổi từ mô hình lấy người thầy làm trung tâm sang mô hình lấy người học làm trung tâm không chỉ là một xu thế mà còn là yêu cầu cấp thiết để phát huy tính chủ động, sáng tạo của học viên. Các giải pháp này tập trung vào việc thay đổi vai trò của giảng viên và xây dựng một môi trường học tập năng động, khuyến khích sự tương tác và tự khám phá tri thức.

3.1. Nâng cao vai trò của giảng viên trong việc định hướng tự học

Luận văn đề xuất giảng viên phải là người “thắp lửa” và dẫn đường cho quá trình tự học. Thay vì chỉ truyền đạt kiến thức, giảng viên cần tập trung vào việc hướng dẫn học viên các phương pháp tự học hiệu quả. Điều này bao gồm việc giao các nhiệm vụ học tập có tính gợi mở, yêu cầu học viên phải tự nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp. Giảng viên cần thiết kế bài giảng theo hướng tăng cường thảo luận, đặt câu hỏi phản biện và giải quyết các tình huống thực tiễn. Vai trò của giảng viên còn thể hiện ở việc cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phong phú, định hướng cho học viên cách khai thác thông tin một cách khoa học. Đồng thời, việc thường xuyên kiểm tra, nhận xét và góp ý về quá trình tự học của từng cá nhân sẽ giúp học viên điều chỉnh phương pháp kịp thời, tránh tình trạng học lệch, học tủ.

3.2. Xây dựng môi trường học tập tích cực thúc đẩy tự giác

Một môi trường học tập tích cực là yếu tố không thể thiếu để nuôi dưỡng ý thức tự học của sinh viên. Luận văn khuyến nghị nhà trường cần tăng cường các hoạt động học thuật như seminar, hội thảo chuyên đề, và các cuộc thi nghiên cứu khoa học. Các hoạt động này tạo cơ hội cho học viên trình bày quan điểm, bảo vệ ý kiến và học hỏi lẫn nhau. Bên cạnh đó, việc tổ chức học tập theo nhóm nhỏ, có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, cũng là một phương pháp tự học hiệu quả, giúp phát triển kỹ năng hợp tác và tinh thần trách nhiệm. Thư viện và các nguồn tài nguyên số cần được đầu tư, hiện đại hóa để trở thành nơi hấp dẫn, hỗ trợ đắc lực cho việc tự nghiên cứu. Môi trường kỷ luật đặc thù của trường công an cần được kết hợp hài hòa với không khí học thuật cởi mở, sáng tạo.

IV. Phương pháp quản lý hoạt động tự học Tối ưu hóa công cụ

Bên cạnh việc đổi mới phương pháp giảng dạy, luận văn còn đề xuất các biện pháp mang tính quản lý vĩ mô nhằm tạo ra một khung khổ vững chắc cho hoạt động tự học. Các giải pháp quản lý hoạt động tự học này tập trung vào việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và công cụ hỗ trợ từ phía nhà trường. Việc quản lý không chỉ dừng lại ở việc giám sát giờ giấc mà phải đi sâu vào quản lý chất lượng, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến đánh giá kết quả học tập. Mục tiêu là xây dựng một quy trình quản lý khoa học, đồng bộ và minh bạch, đảm bảo mọi nỗ lực của cả giảng viên và học viên đều hướng tới mục tiêu chung là nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng chuẩn đầu ra của ngành.

4.1. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra và đánh giá kết quả học tập

Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá kết quả học tập như một công cụ quản lý hữu hiệu. Đề tài đề xuất cần đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá. Thay vì chỉ dựa vào bài thi cuối kỳ, cần tăng tỷ trọng của các hình thức đánh giá quá trình như bài tập lớn, tiểu luận, thuyết trình, và sự tham gia thảo luận trên lớp. Việc này buộc học viên phải tự học một cách thường xuyên, liên tục thay vì chỉ học dồn vào cuối kỳ. Kết quả tự học cần được lượng hóa và coi là một tiêu chí quan trọng trong việc xếp loại học tập và rèn luyện. Một hệ thống đánh giá công bằng, minh bạch và toàn diện sẽ là động lực lớn nhất để thúc đẩy ý thức tự học của sinh viên và giúp nhà trường nắm bắt chính xác chất lượng đầu ra của học viên.

4.2. Xây dựng quy chế và công cụ hỗ trợ học viên tự học

Để hoạt động tự học đi vào nền nếp, luận văn đề nghị nhà trường cần xây dựng và ban hành một quy chế cụ thể về hoạt động tự học. Quy chế này cần quy định rõ về thời gian, nội dung, hình thức và trách nhiệm của học viên cũng như các đơn vị quản lý. Cần có cơ chế khen thưởng kịp thời đối với những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong phong trào tự học. Về công cụ, việc phát triển một hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS) là cần thiết, nơi giảng viên có thể đăng tải tài liệu, giao bài tập và tương tác với học viên ngoài giờ lên lớp. Hệ thống này không chỉ giúp việc quản lý thời gian học tập hiệu quả hơn mà còn tạo ra một môi trường học tập linh hoạt, hỗ trợ tối đa cho quá trình tự nghiên cứu của học viên các trường Công an Nhân dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/10/2025
Luận văn quản lý hoạt động tự học của học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân i

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN 1. Các khái niệm công cụ 1.1 Khái niện quản lý Quản lý là hoạt động đặc biệt, một dạng lao động xuất hiện rất sớm trong lịch sử, là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động của nhiều người, yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển. Xã hội càng phát triển thì vai trò của quản lý càng quan trọng, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay. Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về quản lý nhưng vẫn chưa có định nghĩa chung: Trong tác phẩm “Cơ sở khoa học quản lý”, nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Đạo có viết: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế.

bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”. Trong tập “Những bài giảng về quản lý trường học” tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản lý là một hoạt động có định hướng, (có chủ đích) có tổ chức, lựa chọn trong các hoạt động có thể có, dựa trên thông tin tình trạng của đối tượng, môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”. Trong “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” của hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ có nêu: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý là một hệ thống và là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.

Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”. Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, tuy nhiên có thể thống nhất: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định của chủ thể quản lý đến khách 8 thể quản lý, nhằm hướng dẫn, điều khiển các quá trình xã hội, các hành vi, hoạt động của con người để đạt tới những mục đích phù hợp với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Bản chất Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý, nhằm thực hiện mục tiêu nhất định đã đề ra. Khái niệm hoạt động Theo A.

Lêônchiép: “hoạt động là quá trình thực hiện sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể - khách thể” (A. Nhà tâm lý học này cũng đề cập đến hai quá trình tâm lý cơ bản trong hoạt động: quá trình chuyển hóa của khách thể sang hình thức chủ quan, sang hình tượng; đồng thời, chuyển hóa tâm lý của chủ thể thành kết quả khách quan, thành sản phẩm của hoạt động. Krucheski đưa ra định nghĩa về hoạt động như sau: hoạt động là tính tích cực của con người nhằm đạt mục đích được đặt ra một cách có ý thức, để thỏa mãn nhu cầu và hứng thú và nhằm thực hiện đòi hỏi của xã hội và đất nước đối với họ (B. Theo nhà tâm lý học này, hoạt động là phương thức tồn tại của con người, không có hoạt động, thì không có cuộc sống con người.

Hoạt động gồm hai quá trình tâm lý, đồng thời là hai chức năng chính của hoạt động: quá trình tạo ra điều kiện vật chất và các sản phẩm tinh thần cho cuộc sống con người, trong đó, con người thay đổi hiện thực bên ngoài, biến đổi thế giới xung quanh và quá trình hình thành và biến đổi chính bản thân (ý chí, tính cách, năng lực…). Kruchexki cũng chỉ rõ một số đặc trưng của hoạt động của con người: thứ nhất, hoạt động của con người mang tính ý thức: con người biết được mục tiêu và phương thức đạt mục tiêu, hình dung được kết quả hoạt động. Thứ hai, hoạt động của con người gắn liền với việc chuẩn bị, việc sử dụng và bảo vệ dụng cụ lao động. Thứ ba, hoạt động của con người mang tính xã hội.

Theo nguyên tắc, nó được thực hiện trong tập thể và vì tập thể. Phạm Minh Hạc (2002) cho rằng, hoạt động là quá trình con người thực hiện các mối quan hệ giữa mình và thế giới bên ngoài, với người khác và với bản 9 thân. Trong quá trình đó, một mặt, tâm lý của con người (năng lực, ý chí, mong muốn, tính cách) được bộc lộ ra bên ngoài; mặt khác, các thuộc tính của đối tượng được chuyển vào thế giới nội tâm của con người, tạo nên tâm lý, nhân cách của họ. Theo Nguyễn Quang Uẩn và đồng sự (2007), hoạt động có hai quá trình tâm lý cơ bản: - Quá trình đối tượng hóa (quá trình xuất tâm), chủ thể chuyển năng lực và phẩm chất tâm lý của mình vào đối tượng, ghi dấu ấn của con người vào sản phẩm lao động.

Nhờ đó, tâm lý con người được bộc lộ, khách quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm. Trong quá trình này có sự xuất hiện và thể hiện hình ảnh tâm lý của con người (chủ thể) trong khách thể (sản phẩm hoạt động). - Quá trình chủ thế hóa (còn gọi là quá trình nhập tâm): Thông qua các các hoạt động, con người tiếp thu lấy tri thức, đúc rút được kinh nghiệm, phản ánh những thuộc tính của đối tượng, phương tiện lao động, để làm giàu ý thức, tâm lý của bản thân mình. Trong quá trình này, con người khám phá, tiếp thu, lĩnh hội những đặc điểm của thế giới bên ngoài, rèn luyện những phẩm chất, năng lực, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm cần thiết cho bản thân.

Từ đó, có thể đưa ra khái niệm hoạt động như sau: Hoạt động là quá trình con người tác động đến thế giới bên ngoài, đến người khác và với bản thân, xuất phát từ những động cơ nào đó, nhằm đạt mục đích được đặt ra một cách có ý thức, để thỏa mãn nhu cầu và hứng thú của bản thân và đáp ứng đòi hỏi của tổ chức, của xã hội đối với họ. Như vậy, hoạt động của con người có những đặc điểm như: - Được xuất phát từ những động cơ nào đó; - Có mục đích được đặt ra trước; - Gồm nhiều hành động làm thay đổi thế giới bên ngoài, thay đổi người khác và chính bản thân họ. Khái niệm hoạt động học tập Học theo nghĩa phổ thông là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm, tạo ra sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi của con người. Học có thể diễn ra 10 theo nhiều cách thức: thông qua trải nghiệm trong cuộc sống, qua thực hành, qua truyền nghề, quan sát, điều chỉnh, rút kinh nghiệm.

Trong khi đó, hoạt động học tập là hoạt động được thực hiện theo phương pháp nhà trường, được tổ chức bài bản theo những nội dung và phương pháp được xác định trước, với các thiết chế nhất định. Hoạt động học tập do người học thực hiện, dưới sự hướng dẫn của người dạy (người thầy), với mục đích lĩnh hội tri thức, khái niệm khoa học, cũng như hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, làm phát triển trí tuệ, năng lực, giúp con người giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra. Có thể nói, hoạt động học là hoạt động do người học thực hiện một cách tự giác, dưới sự hướng dẫn của người dạy, nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và hoạt động mới, nhằm phát triển nhân cách của chính họ. Như vậy, hoạt động học tập là một hoạt động đặc thù của con người.

Hoạt động này hướng đến đối tượng là tri thức, hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, phương thức hành vi và hoạt động mới, nhằm thay đổi bản thân người học. Hoạt động học tập của người học thường gắn liền với hoạt động giảng dạy của người thầy. Tuy nhiên, ở những thời điểm nhất định, hoạt động học của người học không chịu sự hướng dẫn trực tiếp của người thầy. Đó là hoạt động tự học.

Sự kết hợp giữa hoạt động tự học và hoạt động học theo phương thức nhà trường là hết sức cần thiết, nhằm làm cho hoạt động học tập đạt hiệu quả cao nhất. Vậy hoạt động tự học là gì? 1. Khái niệm hoạt động tự học Tác giả Thái Duy Tuyên trong tác phẩm: Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học viết “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”. 11 Tác giả Lê Khánh Bằng cho rằng tự học là việc bản thân người học phải huy động các năng lực phẩm chất trí tuệ của mình chiếm lĩnh những tri thức khoa học và biến những tri thức đó thành vốn kinh nghiệm của bản thân, theo tác giả: "Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định".

Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn lại cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: "Tự học là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng đắn vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ xã hội". Tự học luôn đi cùng gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân. Tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy.

Để có được, đạt tới hoàn thiện thì mỗi học sinh, sinh viên phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn, tự thân rèn luyện các kỹ năng, tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi, mọi lúc. Tự học giúp con người tìm ra những điều mới, tri thức mới, cách thức hành động mới bằng sự cố gắng, nỗ lực của chính bản thân mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ