Luận văn: Quản lý dạy học Vật lý tại THCS Chương Mỹ theo hướng phát triển năng lực

Chuyên khảo giáo dục phân tích Luận văn quản lý hoạt động dạy học môn vật lý ở các trường trung học cơ sở huyện chương mỹ thành, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN VẬT LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.2. Hoạt động dạy học môn Vật lý ở trường trung học cơ sở theo hướng phát triển năng lực

1.3. Quản lý hoạt động dạy học môn Vật lý ở trường trung học cơ sở theo hướng phát triển năng lực

2. Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN VẬT LÝ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

2.1. Khái quát địa bàn nghiên cứu và quá trình tổ chức khảo sát thực trạng

2.2. Thực trạng hoạt động dạy học môn Vật lý ở các trường trung học cơ sở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội theo hướng phát triển năng lực

2.3. Thực trạng quản lý dạy học môn Vật lý ở các trường trung học cơ sở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội theo hướng phát triển năng lực

2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động dạy học môn Vật lý ở các trường trung học cơ sở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội theo hướng phát triển năng lực

2.5. Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Vật lý ở các trường trung học cơ sở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội theo hướng phát triển năng lực

3. Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN VẬT LÝ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp

3.2. Các biện pháp đề xuất

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất

3.4. Khảo nghiệm mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý dạy học Vật lý THCS phát triển năng lực

Trong bối cảnh ngành giáo dục Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã trở thành một yêu cầu cấp thiết. Trọng tâm của sự đổi mới này là chuyển từ giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Luận văn thạc sĩ của tác giả Trịnh Viết Ánh (2021) về “Quản lý hoạt động dạy học môn Vật lý ở các trường trung học cơ sở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội theo hướng phát triển năng lực” đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc và hệ thống về vấn đề này. Hoạt động dạy học không còn là quá trình truyền thụ một chiều mà là sự tương tác phức hợp giữa người dạy và người học, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Theo đó, dạy học theo định hướng phát triển năng lực là mô hình giáo dục tập trung vào kết quả đầu ra, nhấn mạnh khả năng học sinh vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Môn Vật lý, với vai trò là một môn khoa học thực nghiệm, có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực học sinh THCS, đặc biệt là năng lực tư duy khoa học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Do đó, quản lý hoạt động dạy học môn Vật lý hiệu quả không chỉ là tổ chức thực hiện chương trình mà còn là quá trình hoạch định, chỉ đạo, và kiểm tra nhằm tối ưu hóa mọi yếu tố, từ giáo viên, học sinh đến cơ sở vật chất, để đạt được mục tiêu phát triển năng lực toàn diện cho người học.

1.1. Khám phá cơ sở lý luận về quản lý dạy học theo năng lực

Theo cơ sở lý luận về quản lý dạy học, quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Trong giáo dục, công tác quản lý của hiệu trưởng là yếu tố then chốt, định hướng toàn bộ hoạt động của nhà trường. Khi áp dụng vào dạy học theo định hướng phát triển năng lực, quản lý không chỉ dừng lại ở việc giám sát tiến độ chương trình. Nó đòi hỏi người quản lý phải có tầm nhìn chiến lược, khả năng tổ chức các hoạt động bồi dưỡng giáo viên Vật lý, chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy và xây dựng một hệ thống kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực phù hợp. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một môi trường giáo dục mà ở đó, mỗi học sinh được trao cơ hội để phát huy tối đa tiềm năng, hình thành các năng lực cốt lõi và năng lực chuyên biệt của môn học.

1.2. Vai trò môn Vật lý trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Vật lý xác định rõ mục tiêu không chỉ cung cấp kiến thức mà còn hình thành các năng lực đặc thù môn Vật lý. Các năng lực này bao gồm năng lực nhận thức vật lí, tìm hiểu tự nhiên dưới góc độ vật lí, và vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn. Môn học đóng vai trò nền tảng cho việc giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), giúp học sinh hiểu được các quy luật của thế giới tự nhiên và ứng dụng của chúng trong đời sống. Việc tổ chức dạy học Vật lý ở trường THCS theo định hướng này đòi hỏi một sự thay đổi lớn trong tư duy quản lý, từ việc chỉ đạo dạy đủ nội dung sang quản lý quá trình hình thành và phát triển năng lực, giúp học sinh trở thành những công dân chủ động, sáng tạo và có khả năng tự học suốt đời.

II. Thực trạng quản lý dạy học Vật lý tại huyện Chương Mỹ

Nghiên cứu của Trịnh Viết Ánh (2021) đã tiến hành khảo sát thực trạng tại 4 trường THCS đại diện cho 4 cụm Miền của huyện Chương Mỹ, Hà Nội, cung cấp một bức tranh chi tiết về những thành tựu và thách thức. Về mặt tích cực, công tác quản lý đã đảm bảo việc thực hiện đúng tiến độ chương trình, duy trì nề nếp dạy và học. Tuy nhiên, khi đi sâu vào chất lượng của hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực, nhiều hạn chế đã được chỉ ra. Thực trạng dạy và học môn Vật lý cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa định hướng đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo và việc triển khai thực tế tại cơ sở. Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học hiện tại chủ yếu mang tính hành chính, chưa thực sự thúc đẩy được sự sáng tạo và đổi mới trong đội ngũ giáo viên. Việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lý còn chậm, hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, và hệ thống kiểm tra đánh giá chưa phản ánh đúng năng lực của học sinh. Những thách thức này đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục cần có những giải pháp đột phá và đồng bộ để nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý, đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục mới.

2.1. Thách thức trong việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lý

Kết quả khảo sát cho thấy các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình (ĐTB = 2,67) và vấn đáp (ĐTB = 2,85) vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối trong các giờ học Vật lý. Trong khi đó, các phương pháp dạy học tích cực, có khả năng phát triển năng lực cao như dạy học theo dự án (ĐTB = 1,02) hay trải nghiệm sáng tạo (ĐTB = 1,00) gần như không được áp dụng. Điều này cho thấy giáo viên còn lúng túng hoặc ngại thay đổi. Quản lý hoạt động chuyên môn chưa tạo ra được cơ chế khuyến khích, hỗ trợ hiệu quả để giáo viên mạnh dạn thử nghiệm các phương pháp mới. Việc thiếu vắng các mô hình dạy học phát triển năng lực sáng tạo khiến giờ học Vật lý chưa thực sự hấp dẫn, hạn chế khả năng tự học và khám phá của học sinh.

2.2. Hạn chế trong kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực

Hoạt động kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực là mắt xích yếu nhất trong thực trạng được khảo sát. Hầu hết giáo viên vẫn tập trung vào kiểm tra viết (ĐTB = 2,91) và cho điểm dựa trên khả năng tái hiện kiến thức (ĐTB = 3,00). Việc thiết kế các câu hỏi hay nhiệm vụ nhằm đánh giá năng lực vận dụng, sáng tạo của học sinh còn rất hạn chế (ĐTB = 1,28). Các hình thức đánh giá sản phẩm cá nhân (ĐTB = 1,11) hay sản phẩm nhóm (ĐTB = 1,17) cũng ít được thực hiện. Điều này không chỉ không phản ánh đúng năng lực người học mà còn tạo ra định hướng học tập sai lệch, khiến học sinh chỉ tập trung vào việc học thuộc lòng để đối phó với thi cử, thay vì phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn.

2.3. Bất cập về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học môn Vật lý

Cơ sở vật chất và thiết bị là điều kiện cần để triển khai hiệu quả việc dạy học Vật lý theo hướng phát triển năng lực. Mặc dù các trường đã được trang bị thiết bị dạy học, nhưng tần suất sử dụng còn thấp (ĐTB = 2,46 đối với thiết bị được cấp). Đáng chú ý, việc sử dụng đồ dùng dạy học tự làm (ĐTB = 1,16) và các vật dụng trong thực tế đời sống (ĐTB = 1,14) rất hạn chế. Điều này cho thấy hoạt động dạy học chưa gắn kết chặt chẽ với thực tiễn. Quản lý giáo dục THCS cần có kế hoạch đầu tư, bổ sung và quan trọng hơn là có biện pháp quản lý, khuyến khích việc khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có để hỗ trợ tốt nhất cho hoạt động thí nghiệm, thực hành, vốn là đặc trưng của môn Vật lý.

III. Top 5 biện pháp quản lý hoạt động dạy học Vật lý hiệu quả

Để khắc phục những tồn tại và nâng cao chất lượng giáo dục, luận văn đã đề xuất một hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động dạy học mang tính toàn diện và khả thi. Các biện pháp này không chỉ tập trung vào yếu tố chuyên môn mà còn bao quát cả công tác tư tưởng, tổ chức và cơ sở vật chất. Trọng tâm của các giải pháp là trao quyền và nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên, đồng thời tăng cường vai trò định hướng, chỉ đạo và giám sát của cán bộ quản lý. Mục tiêu là xây dựng một cơ chế quản lý linh hoạt, sáng tạo, lấy sự tiến bộ của học sinh làm thước đo cho mọi hoạt động. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý giáo dục này được kỳ vọng sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp dạy học Vật lý tại các trường THCS huyện Chương Mỹ. Đây là con đường tất yếu để nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý, đáp ứng mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Vật lý và góp phần vào sự nghiệp đổi mới giáo dục chung của đất nước.

3.1. Nâng cao nhận thức về dạy học phát triển năng lực

Biện pháp đầu tiên và nền tảng nhất là thay đổi tư duy. Hiệu trưởng cần tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo để quán triệt sâu sắc cho toàn thể cán bộ, giáo viên về bản chất của dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Cần làm rõ sự khác biệt giữa dạy học truyền thụ kiến thức và dạy học phát triển năng lực, từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến cách thức kiểm tra, đánh giá. Khi nhận thức được nâng cao, giáo viên sẽ tự giác và chủ động hơn trong việc tìm tòi, đổi mới, xem việc phát triển năng lực học sinh THCS là nhiệm vụ cốt lõi trong công tác giảng dạy của mình.

3.2. Cách quản lý tổ chuyên môn Vật lý theo hướng nghiên cứu bài học

Sinh hoạt tổ chuyên môn cần được đổi mới triệt để. Thay vì các cuộc họp hành chính, quản lý tổ chuyên môn Vật lý cần chuyển sang mô hình sinh hoạt dựa trên nghiên cứu bài học. Theo đó, các giáo viên cùng nhau xây dựng kế hoạch bài dạy, dự giờ, phân tích, rút kinh nghiệm để tìm ra phương án dạy học tối ưu nhất. Hoạt động này không chỉ giúp nâng cao trình độ chuyên môn cho từng cá nhân mà còn tạo ra một môi trường hợp tác, chia sẻ, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học Vật lý một cách bền vững. Hiệu trưởng cần chỉ đạo sát sao và tạo điều kiện để các tổ chuyên môn thực hiện hiệu quả mô hình này.

3.3. Kế hoạch bồi dưỡng giáo viên Vật lý về phương pháp dạy học mới

Nhà trường cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên Vật lý một cách bài bản và liên tục. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào các phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại như dạy học theo dự án, dạy học giải quyết vấn đề, kỹ thuật "bàn tay nặn bột", và đặc biệt là giáo dục STEM trong dạy học Vật lý. Các hình thức bồi dưỡng có thể đa dạng, từ mời chuyên gia, tổ chức tập huấn tại trường, đến tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các khóa học bên ngoài. Việc đầu tư vào phát triển năng lực đội ngũ giáo viên chính là đầu tư hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng giáo dục.

IV. Hướng dẫn đổi mới kiểm tra đánh giá theo năng lực Vật lý

Đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu đột phá quyết định sự thành công của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Nếu phương pháp dạy thay đổi nhưng cách kiểm tra vẫn giữ nguyên, mọi nỗ lực đổi mới sẽ không mang lại hiệu quả. Do đó, quản lý hoạt động dạy học môn Vật lý phải đặc biệt chú trọng đến việc chỉ đạo và hỗ trợ giáo viên trong việc thay đổi cách thức đánh giá kết quả học tập của học sinh. Quá trình này đòi hỏi sự đầu tư về thời gian, công sức và trí tuệ từ cả người quản lý và giáo viên. Hiệu trưởng cần là người tiên phong, dẫn dắt sự thay đổi này bằng việc xây dựng các quy định cụ thể, tổ chức tập huấn chuyên sâu và tạo ra một văn hóa đánh giá tích cực trong nhà trường. Một hệ thống kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực hiệu quả sẽ không chỉ đo lường chính xác năng lực học sinh mà còn cung cấp thông tin phản hồi giá trị để cải tiến liên tục quá trình dạy và học, đảm bảo mục tiêu phát triển năng lực học sinh THCS được thực hiện một cách thực chất.

4.1. Kỹ thuật xây dựng ma trận đề kiểm tra đánh giá năng lực

Để đảm bảo tính khoa học và toàn diện, việc ra đề kiểm tra cần dựa trên một ma trận cụ thể. Hiệu trưởng cần chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng ma trận đề kiểm tra cho từng chương, từng học kỳ. Ma trận này phải xác định rõ các mức độ nhận thức (biết, hiểu, vận dụng, vận dụng cao) và các năng lực đặc thù môn Vật lý cần đánh giá. Dựa trên ma trận, các câu hỏi và bài tập được thiết kế sẽ bao quát được nội dung chương trình và phân hóa được trình độ học sinh, tránh tình trạng đề thi chỉ tập trung vào kiểm tra khả năng ghi nhớ kiến thức đơn thuần.

4.2. Phương pháp triển khai các hình thức đánh giá đa dạng sáng tạo

Bên cạnh bài kiểm tra viết truyền thống, người quản lý cần khuyến khích giáo viên áp dụng đa dạng các hình thức đánh giá khác. Đó có thể là đánh giá qua sản phẩm học tập (báo cáo thí nghiệm, mô hình, poster), đánh giá qua hồ sơ học tập (portfolio), đánh giá qua quan sát hoạt động nhóm, hay đánh giá qua các bài thuyết trình. Việc sử dụng kết hợp đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ, kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của học sinh sẽ giúp có được cái nhìn toàn diện và khách quan hơn về sự tiến bộ của mỗi em.

4.3. Quản lý việc phân tích kết quả đánh giá để cải tiến dạy học

Kết quả kiểm tra đánh giá không phải là điểm dừng cuối cùng. Nó là nguồn dữ liệu quan trọng để cả giáo viên và học sinh nhìn lại quá trình làm việc của mình. Công tác quản lý của hiệu trưởng cần đảm bảo rằng sau mỗi kỳ đánh giá, tổ chuyên môn phải có buổi họp phân tích kết quả. Buổi họp này cần chỉ ra những mảng kiến thức, kỹ năng mà học sinh còn yếu, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy và học cho giai đoạn tiếp theo. Đây chính là vòng tròn của quản lý chất lượng, giúp hoạt động giáo dục không ngừng được cải tiến và nâng cao.

V. Mô hình ứng dụng quản lý dạy học Vật lý tại Chương Mỹ

Từ cơ sở lý luận và thực trạng phân tích, một mô hình dạy học phát triển năng lực khả thi cho các trường THCS huyện Chương Mỹ có thể được phác thảo. Mô hình này là sự tổng hòa các biện pháp quản lý hoạt động dạy học đã đề xuất, tập trung vào việc tạo ra một môi trường học tập tích cực, gắn lý thuyết với thực tiễn. Trong mô hình này, công tác quản lý của hiệu trưởng đóng vai trò kiến tạo, kết nối các nguồn lực và dẫn dắt sự thay đổi. Giáo viên từ vị trí người truyền thụ kiến thức trở thành người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập, khơi gợi và thúc đẩy tiềm năng của học sinh. Học sinh là trung tâm của quá trình giáo dục, chủ động tham gia vào các hoạt động khám phá, thực hành và sáng tạo. Việc áp dụng thành công mô hình này sẽ giúp nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý, biến các giờ học trở nên sinh động, ý nghĩa hơn, đồng thời trang bị cho học sinh những năng lực cần thiết để tự tin bước vào cuộc sống và tiếp tục học tập ở các bậc học cao hơn.

5.1. Ứng dụng mô hình dạy học Vật lý qua các chủ đề STEM

Một trong những hướng đi hiệu quả nhất để hiện thực hóa mô hình là thông qua giáo dục STEM trong dạy học Vật lý. Hiệu trưởng có thể chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng các chủ đề học tập tích hợp, liên môn. Ví dụ, chủ đề “Năng lượng tái tạo” có thể tích hợp kiến thức Vật lý (quang học, điện học), Công nghệ (thiết kế pin mặt trời mini), Toán học (tính toán hiệu suất) và Môi trường. Thông qua việc thực hiện các dự án STEM, học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện được năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và tư duy sáng tạo. Đây là cách tiếp cận hiện đại giúp việc tổ chức dạy học Vật lý ở trường THCS trở nên thực tiễn và hấp dẫn.

5.2. Hướng dẫn quản lý hiệu quả cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm

Để hỗ trợ cho các hoạt động thực hành và dự án STEM, việc quản lý và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất là tối quan trọng. Nhà trường cần xây dựng quy chế sử dụng phòng thí nghiệm rõ ràng, có kế hoạch bảo trì, mua sắm bổ sung trang thiết bị định kỳ. Đặc biệt, cần phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học trong giáo viên và học sinh, tận dụng các vật liệu tái chế, chi phí thấp. Một giải pháp quản lý giáo dục hiệu quả là tổ chức các cuộc thi, trưng bày sản phẩm tự làm để khích lệ sự sáng tạo. Khi cơ sở vật chất được quản lý và khai thác tốt, nó sẽ trở thành công cụ đắc lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lý.

VI. Kết luận định hướng quản lý dạy học Vật lý trong tương lai

Nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Vật lý ở các trường trung học cơ sở huyện Chương Mỹ đã chỉ rõ những thách thức nhưng đồng thời cũng mở ra nhiều định hướng phát triển đầy hứa hẹn. Khoảng cách giữa mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Vật lý và thực tiễn triển khai là một thực tế cần được nhìn nhận thẳng thắn. Tuy nhiên, với hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động dạy học được đề xuất một cách khoa học và có tính hệ thống, con đường để nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý đã trở nên rõ ràng hơn. Tương lai của việc dạy học Vật lý tại huyện Chương Mỹ phụ thuộc rất lớn vào năng lực và quyết tâm đổi mới của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên. Chuyển đổi thành công từ mô hình dạy học truyền thống sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực không phải là một công việc dễ dàng, nó đòi hỏi sự nỗ lực bền bỉ, sự đầu tư đúng hướng và sự phối hợp đồng bộ của toàn ngành. Kết quả của quá trình này sẽ là một thế hệ học sinh được trang bị đầy đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.

6.1. Tóm lược các giải pháp quản lý giáo dục cốt lõi cần ưu tiên

Tựu trung lại, có ba nhóm giải pháp quản lý giáo dục cần được ưu tiên hàng đầu. Thứ nhất, thay đổi nhận thức là tiên quyết, cần làm cho mỗi nhà quản lý và giáo viên thấu hiểu và tin tưởng vào con đường đổi mới. Thứ hai, tập trung đầu tư vào con người thông qua các chương trình bồi dưỡng giáo viên Vật lý chất lượng cao, đặc biệt là về phương pháp dạy học và kỹ năng đánh giá mới. Thứ ba, quyết liệt đổi mới khâu kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực, coi đây là đòn bẩy để thúc đẩy sự thay đổi trong toàn bộ hoạt động dạy và học.

6.2. Khuyến nghị cho các cấp quản lý giáo dục THCS huyện Chương Mỹ

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đưa ra. Đối với các Hiệu trưởng, cần tăng cường vai trò lãnh đạo chuyên môn, chủ động xây dựng kế hoạch đổi mới chi tiết cho trường mình và tạo môi trường làm việc dân chủ, sáng tạo. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Chương Mỹ, cần tăng cường tổ chức các hội thảo chuyên đề cấp huyện, xây dựng ngân hàng đề kiểm tra theo định hướng năng lực để các trường tham khảo, và có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công cuộc đổi mới. Sự chỉ đạo thống nhất và hỗ trợ kịp thời từ cấp trên sẽ là nguồn động lực quan trọng cho các nhà trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

05/10/2025
Luận văn quản lý hoạt động dạy học môn vật lý ở các trường trung học cơ sở huyện chương mỹ thành phố hà nội theo hướng phát triển năng lực

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN VẬT LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Hoạt động dạy học Dạy học là một quá trình hoạt động hai mặt do người dạy - thầy cô giáo và người học – học sinh nhằm thực hiện những mục đích dạy học [39]; Bao gồm toàn bộ các công tác có tổ chức và có định hướng nhằm giúp cho người học từng bước có được năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích lĩnh hội các giá trị tinh thần, các hiểu biết, kỹ năng nắm bắt vấn đề, những giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để giải quyết vấn đề mà thực tiễn đặt ra trong toàn bộ đời sống của mỗi cá nhân học sinh. Dạy học là một quá trình thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học đó là hoạt động dạy và hoạt động học.

Dạy và học là hai hoạt động luôn phối hợp và tác động với nhau. Quá trình dạy học sẽ không thể diễn ra nếu thiếu một trong hai hoạt động trên [30]. Dạy học đòi hỏi sự sáng tạo nhằm làm cho quá trình dạy học phải đảm bảo được lí luận phải đi đôi với hoạt động thực tiễn. Đồng thời nhiệm vụ dạy học trong mỗi trường học không chỉ đảm bảo cho mỗi học sinh có được trình độ văn hóa nhất định mà còn góp phần hình thành và phát triển nhân cách của họ [26].

Tính tích cực hóa trong hoạt động nhận thức của học sinh là một hướng giảng dạy của người giáo viên trong việc soạn thảo và sử dụng nội dung, hình thức, phương tiện trong quá trình dạy học nhằm giúp cho học sinh có hứng thú đối với môn học, tính tích cực tự giác, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn. Việc xác định đưa nội dung vào giảng dạy cần đảm bảo tính kế tục của tri thức mới trên cơ sở tri thức đã biết giúp quá trình nhận thức phát triển diễn ra thuận lợi, theo chiều xoáy trôn ốc [31]. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn hoạt động dạy học được hiểu là: Hoạt động dạy học là hoạt động được thực hiện theo một chiến lược, chương trình đã được thiết kế, tác động đến người học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Năng lực và phát triển năng lực Khái niệm năng lực (Competency) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh.

Năng lực được hiểu như sự thực hiện thành thạo công việc của cá nhân. Bản thân năng lực không 11 phải là hoạt động nhưng nó được thể hiện, bộc lộ thông qua việc thực hiện thành công các hoạt động. Nó là kết quả của việc huy động các kiến thức, kỹ năng và những thuộc tính cá nhân khác nhưng không phải chính sự huy động ấy. “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” [31].

Các nhà tâm lí học đã chia năng lực thành hai dạng khác nhau đó là 10 năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Trong đó năng lực chung là năng lực cơ bản, cần thiết làm nền tảng để phát triển năng lực chuyên môn. Từ những cách hiểu như trên về năng lực ta có thể thấy năng lực của học sinh THPT chính là khả năng vận dụng kết hợp với kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học tập, kỹ năng và thái độ để thực hiện nhiệm vụ học tập một cách có hiệu quả. Qua đó học sinh có thể giải quyết được những vấn đề trong thực tế đời sống mà các em gặp phải một cách tốt nhất.

Để phát huy, phát triển năng lực của mình, học sinh không chỉ tiếp thu được những kiến thức cơ bản trên lớp do giáo viên mang lại mà học sinh cần phải phát huy được những năng lực vốn có của mình như năng lực kết hợp tiếp thu kiến thức trong các giờ học và tham gia các hoạt động ngoại khóa để vận dụng những kiến thức đã học được vào trong thực tiễn đời sống [36]. Hơn nữa đối với một môn học không chỉ có kiến thức về môn học mà học sinh còn phải tiến hành các thí nghiệm để giải quyết vấn đề thì học sinh cần phải phát huy những năng lực cần thiết như: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo của mình trong quá trình học tập. Đối với năng lực tự học: Học sinh cần phải chủ động, có ý thức tự giác trong việc xác định nhiệm vụ học tập; Sau đó học sinh phải lập ra và thực hiện kế hoạch đã lập ra học tập một cách nghiêm túc, có nề nếp; Cuối cùng là trong quá trình thực hiện việc học tập đó phải có sự tiếp thu để nhận ra và điều chỉnh những mặt sai sót, hạn chế. Đối với năng lực giải quyết vấn đề: Trong học tập học sinh cần phải phát hiện được vấn đề cần giải quyết; Bước tiếp là xác định, tìm hiểu, phân tích được vấn đề để từ đó đưa ra các đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề; Cuối cùng là thực hiện các giải pháp để thực hiện được vấn đề cần giải quyết.

Đối với năng lực sáng tạo: Học sinh cần phải tự đặt ra được những câu hỏi về một sự vật, hiện tượng; Sau đó các bạn học sinh phải đưa ra được ý tưởng dựa trên các nguồn kiến thức đã có. Đặc biệt là học sinh không chỉ thực hiện được ý tưởng đó mà 12 các em còn có thể đưa ra được những đề xuất để cải tiến, thay thế những phương pháp đã cũ, không còn phù hợp trong quá trình học tập. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn năng lực được hiểu là: kiến thức, kỹ năng, khả năng và hành vi mà người lao động cần phải có để đáp ứng yêu cầu công việc, và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác. Đối với môn học Vật lí – một môn học đóng vai trò chủ yếu đối với sự phát triển năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo.

Ngoài ra môn học còn tạo cơ hội để học sinh phát triển năng lực hợp tác. Bởi trong quá trình học, học sinh và giáo viên phải có sự tương tác với nhau, giáo viên phải hướng dẫn học sinh học tập và tiến hành làm các thí nghiệm. Nếu không có năng lực hợp tác thì các kết quả thí nghiệm có thể sẽ bị sai. Như vậy, để đem lại hiệu quả cao trong quá trình học tập thì học sinh cần phải thực hiện và phát triển được những năng lực như trên.

Đồng thời giáo viên phải là người thầy giữ vai trò quan trọng trong quá trình các em học tập. Không chỉ học sinh mới cần phải phát huy, phát triển năng lực của mình mà giáo viên cũng cần phải nắm bắt, phát huy được khả năng, năng lực của mình như năng lực điều chỉnh, điều khiển trong quá trình giao tiếp trong hoạt động dạy – học. Để điều khiển, điều chỉnh mình và người học, người dạy phải có khả năng làm chủ được nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của mình. Người dạy cần phải biết sử dụng các phương tiện giao tiếp phù hợp với yêu cầu nội dung và hoàn cảnh giao tiếp, đảm bảo cho quá trình giao tiếp trong giảng dạy đạt kết quả cao.

Biết điều khiển, điều chỉnh người học tham gia tích cực vào quá trình giao tiếp, hướng vào các nội dung chủ yếu cần trao đổi và dẫn dắt người học đi đúng hướng. Giáo viên phải biết lắng nghe, đặc biệt là sự lắng nghe từ phía các bạn học sinh. Trong quá trình dạy nếu giáo viên chỉ thực hiện duy nhất quá trình truyền đạt kiến thức mà không lắng nghe những thắc mắc của học sinh để giải quyết vấn đề thì hoạt động dạy – học không thể đạt kết quả tốt được [36]. Như vậy, để hoạt động dạy - học đạt hiệu quả cao thì giữa giáo viên và học sinh cần phải có năng lực và phát triển năng lực ấy sao cho phù hợp để có được kết quả giáo dục như mong muốn.

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là”sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng 13 dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của học sinh [39]. Dạy học định hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn và thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực. Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được.

Học sinh cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình. Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra [36]. Khi xác định quan điểm “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”, có thể hiểu: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là dạy học chuyển từ việc điều khiển đầu vào chủ yếu trang bị cho người học nắm vững kiến thức sang tập trung vào việc dạy học hướng vào phát triển năng lực thực hành, năng lực thực tiễn của người học [18]. Trong dạy học định hướng phát triển năng lực, năng lực được thể hiện ở các nội dung: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là quá trình chuyển trọng tâm từ trang bị, cung cấp cho người học nắm vững tri thức có tính lý luận sang dạy học giúp người học vận dụng tri thức vào thực tiễn.

Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được tập trung vào phát triển các năng lực tương ứng với mỗi môn học cụ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ